Lật tẩy “Giải nhân quyền Việt Nam 2011″

(Petrotimes) – Nhằm đúng dịp 63 năm “Ngày nhân quyền quốc tế” (10/12/1948 – 10/12/2011), những kẻ cầm đầu “Mạng lưới nhân quyền Việt Nam” (VHRN), có sào huyệt tại Little Sai gon, Nam California (Mỹ) lũ lượt kéo đến thành phố Melbourne, Australia tái diễn “lễ” trao “Giải nhân quyền Việt Nam 2011″ cho hai can phạm: Cù Huy Hà Vũ và Đỗ Thị Minh Hạnh, đều đang thụ hình vì tội chống đối chính quyền ở Việt Nam (!).

Theo đóm ăn tàn 

Cù Huy Hà Vũ

“Giải nhân quyền Việt Nam 2011” được VHRN công bố đúng ngày khai mạc cái gọi “Đại hội lần thứ 10” của tổ chức phản động, khủng bố này, tối ngày 21/10/2011, Nam California (Mỹ). Chỉ cần điểm tên Cù Huy Hà Vũ và Đỗ Thị Minh Hạnh được VHRN chọn, trao “giải nhân quyền” thì đã lộ ra ngay ý đồ xấu xa của chúng. Qua việc chọn và trao tặng “giải nhân quyền Việt Nam 2011” cho hai can phạm này, vì những hành vi vi phạm pháp luật mà họ đã thực hiện khi tiến hành các hoạt động chống đối chính quyền, VHRN thêm một lần nữa thể hiện rõ âm mưu, hoạt động của tổ chức phản động cực đoan chuyên giật dây dựng “ngọn cờ” trong giới luật sư, công nhân kích động chống đối Nhà nước Việt Nam.

Vào ngày công bố trao “giải nhân quyền” cho Cù Huy Hà Vũ, Đỗ Thị Minh Hạnh, một thành viên VHRN là Nguyễn Văn Đức khoác lác: “giải thưởng được tuyển chọn trong 10 ứng viên. Mỗi giải gồm một bằng tuyên dương và số hiện kim là 3.000USD”. Còn Nguyễn Bá Tùng “đương kim thủ lĩnh” của VHRN, thì không ngớt mồm lấm liếm lăng xê Cù Huy Hà Vũ, Đỗ Thị Minh Hạnh “như những người hùng chống Cộng”. Thực tế thì ngược hẳn với những gì chúng xiên xẹo. Những kẻ được VHRN cho “giải nhân quyền” đều là những phường dá áo túi cơm cắm đầu tham gia vào các hoạt động chống Việt Nam theo “kịch bản” của các thế lực ngoại bang để nhận những đồng đôla bẩn thỉu.

Thật thế: Cù Huy Hà Vũ, sinh năm 1957, tại Hà Nội đang thụ hình phạt 7 năm tù tội tuyên truyền chống chế độ. Chuyện nhân cách, đạo đức, lối sống thể hiện bản chất con người Cù Huy Hà Vũ thì dư luận trong, ngoài nước đã quá rõ rồi. Còn Đỗ Thị Minh Hạnh, 26 tuổi, quê quán tại Di Linh, Lâm Đồng bị tuyên phạt 7 năm tù, trong phiên tòa tháng 3/2011, tội phá rối an ninh trật tự chống chính quyền. Cù Huy Hà Vũ và Đỗ Thị Minh Hạnh đều là những con bài của các thế lực ngoại bang, bọn phản động, khủng bố người Việt lưu vong đánh bóng dựng làm “ngọn cờ” kích động chống Việt Nam theo kịch bản “diễn biến hòa bình”.

Trở lại với buổi “lễ” trao “giải nhân quyền” cho Cù Huy Hà Vũ và Đỗ Thị Minh Hạnh tại thành phố Melbourne ngày 10/12 vừa qua. Buổi “lễ” có sự phối hợp dàn dựng kịch bản của đám phần tử phản động người Việt ở Australia như: “Văn khố thuyền nhân Việt Nam”, “Đài phát thanh viễn xứ”, “Quỹ tù nhân lương tâm”, “Khối 8406”… giúp sức. Gã Đoàn Việt Trung, thành viên cốt cán VHRN được phân công làm trưởng ban tổ chức trao giải chạy đôn chạy đáo đón khách, không ngớt mồm lăng xê cho “giải nhân quyền” và những kẻ đã được chúng bố thí cho cái “giải” này, từ ngày thành lập – năm 2002 đến nay. Nguyễn Bá Tùng, thủ lĩnh VHRN thì xiên xẹo rằng, “quyền làm người tại Việt Nam càng ngày càng tồi tệ” rồi ông ổng kêu gọi “hỗ trợ nhà hoạt động nhân quyền trong nước”… Quả đúng là màn kịch ma mị, kệch cỡm và phản động hết chỗ nói (!)

Tới phần chính buổi trao “giải” gã Đinh Quốc Quân, Thiên Thư ra sức tâng bốc về thành tích bất hảo của Cù Huy Hà Vũ và Đỗ Thị Minh Hạnh. Gã Nguyễn Bá Tùng, Đoàn Thanh Liêm lên bục trao “giải” cho Cù Huy Hà Vũ và Đỗ Thị Minh Hạnh do Cao Đức Huy, Uyên Di nhận thay. Sau phần phát “giải” Nguyễn Thế Phong, Nguyễn Văn Bon cầm đầu các nhóm phản động người Việt tại Australia thì lon ton nhào lên sân khấu tiếp tục chương trình bằng trò “quyên” tiền. Quá 16 giờ cùng ngày, buổi “lễ trao giải nhân quyền” hạ màn… Mấy đám phản động người Việt, nhất là những kẻ cầm đầu VHRN tỏ ra rất hả hê, vì lần đầu kéo đến Australia diễn trò “chống Cộng” bằng màn kịch trao “giải nhân quyền” chúng cũng đã “quyên” được một khoản tiền kha khá…

Sau khi, những kẻ cầm đầu VHRN kéo đến Australia trao “giải nhân quyền”, từ mấy hôm nay, vài tờ báo lá cải, “đài” phát thanh tiếng Việt trong cộng đồng người Việt ở Mỹ, Australia bu vào ra rả loan tin cổ xuý cho “sự kiện” này. Quả thật, rằng trò cho “giải nhân quyền Việt Nam 2011” kia chẳng qua chỉ là một màn kịch – trò hề đã được dàn dựng sẵn một cách thô thiển. Nên chẳng có gì mà chúng phải làm ầm ĩ ở hải ngoại nên như thế (!).

Giá trị nhân quyền bị giễu cợt 

Đỗ Thị Minh Hạnh

VHRN là tổ chức khủng bố, phản động do Nguyễn Ngọc Bích, Lê Minh Nguyên dựng nên tại Mỹ năm 1997. Gần đây, nhất là sau vụ khủng bố 11/9/2001, tại Mỹ nhận thấy phương thức khủng bố, bạo loạn lật đổ chống phá Việt Nam, như của mạng lưới khủng bố “Việt Tân” của Hoàng Cơ Minh, “Chính phủ Việt Nam” của “đệ nhất thiên hạ đại bịp” Nguyễn Hữu Chính đã thất bại và bị Cục Điều tra liên bang Mỹ (FBI) ráo riết điều tra, nên những kẻ cầm đầu VHRN đã điều chỉnh phương thức nhằm gia tăng lợi dụng chiêu bài “dân chủ, nhân quyền” để chống phá Việt Nam cho “hợp thời”. Vì vậy mà năm 2002, chúng đã mở thêm diễn đàn cho giải thưởng hàng năm cho những kẻ vi phạm pháp luật, chống đối cực đoan ở Việt Nam núp dưới hình thức “giải thưởng nhân quyền” và tổ chức “trao giải” để kích động, hậu thuẫn.

Qua 9 năm lập “giải nhân quyền”, VHRN đã trao cho 24 đối tượng và một nhóm phản động người Việt. Như năm 2010, chúng trao giải cho Trần Khải Thanh Thủy, biết đến với hỗn danh Trần Khải Ma Quỷ, Nguyễn Công Chính, mục sư “Cuội”. Những kẻ được VHRN “trao giải”, đều là những kẻ cực đoan tham gia vào các hoạt động chống đối Nhà nước Việt Nam theo sự kích động, giật dây của các thế lực ngoại bang, bọn phản động, khủng bố người Việt lưu vong. Qua các diễn đàn trao giải, VHRN còn nhằm đánh bóng cho cái “phong trào dân chủ” ở trong nước vốn chỉ là hữu danh vô thực. Còn VHRN thì cũng muốn chứng tỏ vai trò chống Cộng nổi trội với các nhóm phản động lưu vong người Việt và các thế lực ngoại bang… Và qua những trò đó, chúng lại có dịp để hô hào, lừa mị “quyên” tiền của cộng đồng để tiêu xài, sinh sống. Có thể khẳng định đây cũng là thứ nghề mạt hạng đang phổ biến ở hải ngoại nhiều năm nay. Cần lên án mạnh mẽ trước cộng đồng người Việt ở hải ngoại.

Thực ra, màn kịch “trao giải nhân quyền” của VHRN chỉ là chiêu bài “vừa đá bóng, vừa thổi còi” của bọn phản động, khủng bố lưu vong người Việt câu kết với các phần tử cực đoan trong nước phối hợp nặn ra, để kích động, hậu thuẫn và vuốt ve nhau mà thôi! Còn dưới con mắt của người Việt yêu nước ở Mỹ thì đây rõ là thói “cõng rắn cắn gà nhà” của những kẻ chống Cộng mù quáng! Cuối cùng đã thấy rõ rằng: Trò trao “giải nhân quyền” của VHRN đó chỉ là rác rưởi, vậy nên chẳng đáng quan tâm.

Bài, ảnh: Thi Nga

Theo Petrotimes

Nghe ca khúc mới: Anh là vầng dương Độc lập – Tự do

http://chhv.files.wordpress.com/2011/04/110404112430_cu_huy_ha_vu_466x350_cuhuyhavu_nocredit.jpg?w=640

Nghe bài hát “Cù Huy Hà Vũ – người trí thức kiên trung”

Nhạc và lời : Nguyễn Văn Chính(Nguyễn Chính)
Thể hiện : Nguyễn Văn Chính

About these ads
This entry was posted in Bài vở liên quan and tagged , . Bookmark the permalink.

21 Responses to Lật tẩy “Giải nhân quyền Việt Nam 2011″

  1. Lê Nguyên Hoàng Minh nói:

    HÁT VỚI SOLIDARNOSC
    ———————————
    Sing with SOLIDARNOŚĆ

    I am a humble Vietnamese boat people
    Like my Polish brothers and sisters, we are a wounded nation
    With Popieluszko and Solidarność
    I raise my voice in song this Christmas night
    Celebrating the birth of Christ,
    To sing of the Dignity of Man,
    Of Hope, of Spring.

    O, Polska! Polska! My Unconquerable Polska
    What emotions warm my heart now
    We lived, we died,
    In life and death so well united
    On the battle field,
    In prison cells,
    In extermination camps,
    Confined to gulags,
    Deported to the outer bounds of wild isles.
    On the ruins of six million innocent people’s graves
    Here spring forth countless green shoots,
    And there, flying towards the kingdom of peace,
    Spread the broad wings of Hope…
    Injustice’s trenches will be filled by alluvium,
    Terror’s flames will be extinguished in providential rain,
    The heart’s garden will be cultivated and tended by devoted hands.
    Inspired by trust and humanity,
    Each one of us looks at the other with radiant countenance,
    Bestowing compassion on those around us,
    And deploring the human condition.
    In fraternity, we show our mood with song and dance,
    Together we demand of ourselves a life of honesty and truth;
    After more than thirty years of oppression and misery,
    Our existence as beasts of burden, captives of an inequitable order,
    Offers us no future.
    To gain our Freedom, we cannot beg,
    Who plucked the fruit of happiness from the plant we grew?
    This is our native soil,
    What right did the Soviet Union have to impose its hegemony?
    For whom must we harvest all these fields of golden wheat ?
    Which country will gain from our trains full of machines?
    The wagons are overflowing with tears and sweat of workers.
    During the numbing winter,
    We do not have enough coal to heat our homes,
    Our sick wives conceal their suffering in silence,
    Our scrawny children fade away from malnutrition;
    They lack milk, potatoes and medicine.
    Replete with satisfaction,
    The Party and its élite caste meet to natter,
    And, with no regard for the wretched population,
    Indulge in the pleasure of sumptuous feasts fit for kings.
    Our parents taught us about sharing, and protecting the weak
    And the victims of injustice:
    The Party vehemently promulgates
    Hate, vengeance and bloody class warfare.
    A dyke has broken in the hearts of the people,
    The tidal wave whirls with wrath…

    From that day forth… from the Poznan uprising,
    Despite their air force,
    Their heavy artillery, their nuclear missiles,
    Their divisions of tanks and armoured vehicles,
    Nothing will alter their nightmare obsession.
    They will never know peace,
    They massacred our brothers in Berlin, in Budapest,
    In the Prague Spring; in Huê, Têt Mâu Thân*
    In Vientiane, in Phnom Penh, in Kabul,
    Religious people, intellectuals, peasants, workers, students:
    They spared nobody.
    They were deluded,
    Believing they could drown our people in the abyss,
    Trample us, terrorise us, humiliate us,
    No coercion can shake Poland’s faith
    Because, since the Poznan insurrection,
    There has been Gdansk, Cracow, Katowice,
    Solidarność, with ten million workers united,
    Like the four winds from the mountains and forests,
    Like the waves of the vast oceans,
    Like the galaxies of the heavens,
    The hearts of our brothers on the five continents of the earth,
    Beat in time with the songs
    Which resound day and night, from the mines, the quarries,
    From the factories, the building sites, the ports and town districts,
    Resonating out to railway platforms,
    Press offices, universities and churches.
    You, young night-duty militiaman, don’t you hear them?
    Try to recognise imperialism’s real face,
    The phantom of darkness who crushes our rosebuds,
    Who, with brittle laughter, disregards our grievances,
    O, our Liberty! Our Independence! Our Hope!

    Black April, 1975,
    Plunging to their fate,
    Saigon and South Viêt Nam, my native land,
    Were put to death,
    Boat people who almost perished on the high seas – what miracle brought me back to life?
    I go to meet my imprisoned writer friends,
    From Hanoi to Pekin. From Pyongyang to Lhasa,
    From Belgrade to Sofia. From Havana to Bucharest.
    I go to Granada, to Federico Garcia Lorca’s grave,
    To Santiago, to meditate in memory of Pablo Neruda,
    In Terezin, as a pilgrim, to the place whence Robert Desnos was deported.
    I make my way in Paris of Victor Hugo and Paul Éluard,
    I make my way in New York of the Statue of Liberty,
    Despite storms, the steadfast watchwoman firmly grips
    The torch of faith held fervently aloft.
    My brothers, my sisters, my friends,
    May I never neglect your call,
    May I have the honour of echoing your voices.

    O, Polska! Polska! My Unconquerable Polska,
    In the depths of your misfortune, I know you have infinite bravery,
    Just like those murdered, those who died, and our unknown defenders,
    My memory of those times comes back vividly,
    And gives me the life force, historic millennia
    Give me the peace of mind to finish an indignant poem.
    You, who until now never dared defend human feelings,
    Come near! Come as close as you can!
    Listen to the truth of what is happening today,
    Don’t keep quiet about it; don’t turn your back on it;
    Don’t lower your head, you accomplices.
    Listen!
    ZOMO’s boots kick down doors,
    The tumult of persecution, as if game were being pursued,
    The furious crack of the whip and truncheon,
    The grinding of teeth. The sobs of children,
    The women’s cries of help for their husbands,
    The shrill noise of assault tanks’ metal tracks
    Ineluctably crushing.
    O, the crystal limbs of innocent souls!
    Your throat is blocked. You struggle. You cry out, exhausted,
    You are strangled. There is laughter. Brutal !
    While the showers of snow fall,
    Oppressive, as in stormy weather,
    Time stops. The Universe falls silent.
    Yet, far off, shots crackle incessantly,
    They come closer as night falls,
    The night of Guernica… The night of Oradour… the night of Auschwitz,
    After Czechoslavkia, and betrayed at Munich,
    Follows the night of Poland.
    Of this series of epoch-making tragic events,
    We cannot allow ourselves to overlook any of them.
    At Wujek, the enemy fired straight at our brother workers,
    At Gdansk too, blood flowed as a result of Soviet bullets.
    Mother from Polska! Let me dry your tears,
    And share the deep wound which tears apart your heart.
    I know well that I will die, once again,
    With my head resting on the shoulders of my beloved brothers.
    The ever-lasting fervour of Fraternity,
    Reflecting the glowing halo of the Sun of truth,
    Will crystallise in the bourgeoning conscience
    Which will dissolve the layer of icy black blood
    On the shores of the Baltic.
    The blood of the innocent, victims of red fascism,
    The fatal night during a state of siege, under curfew,
    Is reflected by the faces of a people in mourning.
    Young soldier of Polska, don’t you hear them ?
    Drop by drop, with each note of his Preludes,
    Chopin pours out his warm tears,
    The tears of a human Love which overflowed from his heart,
    They sound like cries of pain from a lost bird with a broken wing!
    Also, the cheerful, familiar little brook,
    Does its bubbling take on a plaintive note
    When the Chopin Express approaches the mining area,
    The funereal siren song replaces the tolling of the death knell,
    O, Heavens! Criminal atrocities touch even You
    Committed by a pack of murderers, traitors to their homeland!
    Brother of Polska, don’t you remember?
    How many shining mirrors…
    Poland belongs to the children worthy of the nation,
    Warsaw signed the defeat of the Bolshevik army;
    At the Vistula River they would be defeated once more.

    On that night, in the depths of the infernal abyss,
    Our faith grew. Life would prosper tomorrow,
    We would return hand in hand to celebrate our reunion.
    The ear of wheat, the rose: scents and beauties of the future,
    Young children, no longer will you be on bended knee,
    Waxing shoes,
    No longer will life be lived without dignity.
    No longer will Peace be depicted from behind barbed wire,
    No more abject re-education camps and forced labour,
    Nor the wall of shame,
    A bridge of Tolerance will be re-established between men’s hearts.
    Psychiatric hospitals
    Will no longer preoccupy the consciences of intellectuals
    Who dare to speak the truth about imperialism and its puppet subordinates.
    Poets, writers, journalists,
    No longer will we kow tow with our writings,
    We will strengthen our will; we will increase it,
    And not give up.

    Sing with Poland, sing with Viêt Nam,
    Sing with faith and in communion
    To change the world.
    Myriads of stars will accompany us along the way,
    These sparks of fire, delicate but eternal, will long burn,
    These attentive eyes seek to transmit to ours
    Their unchanging distant glimmer,
    Torturers may persecute us, exile us, kill us, murder us,
    Impassive night persists in hate, injustice, mendacity,
    But, already Poland’s spirit has strengthened,
    By the prodigious dimensions of the cosmos, tremendously grandiose.
    Let us pick up the dead leaves.
    Painful ordeals!
    We light the torch which illuminates our way,
    After each fall
    Our travelling companions, brothers, sisters, and friends find their feet again,
    We support each other, we stick together,
    No winter can prevent the deciduous branch’s shoots from springing forth
    When the time for foliation comes,
    And the Springtime of a cheerful humanity
    Traces its dainty lotus-like footsteps,
    And takes off gracefully.

    May I have the pleasure of bringing a note of Hope,
    To the choral march entitled: My Unconquerable Polska,
    Sing with Solidarność, I do not sing alone,
    The cruel night will return, confronted by Dawn…
    Christmas, ’81
    Nguyên Hoàng Bảo Việt

    Original in Vietnamese: ‘’Hát Với Solidarność’’
    Excerpt from Anthology of Poems ‘’Dấu Tích Phượng Hoàng‘’
    French version by Mrs Hoàng Nguyên : ‘’Chanter avec Solidarność’’
    Excerpt from Anthology ‘’L’Empreinte du Phénix’’
    Publishers Bạn Văn Paris 2008. English translation by author
    Polish version by Mrs Małgorzata Bąbelek (Gosia Babelek)
    ————————————————————————

    Chanter avec SOLIDARNOŚĆ

    Je suis un humble boat people viêtnamien
    Avec mes frères et sœurs polonais, peuple meurtri
    Avec Popieluszko et Solidarność
    J’élève ma voix en cette nuit de Noël
    Où le Christ est né
    Pour chanter la Dignité de l’homme
    L’Espérance, le Printemps.

    Ô Polska! Polska! Ma Polska insoumise
    Quelles émotions me réchauffent donc le cœur!
    Nous avons vécu, nous avons disparu
    À la vie et à la mort, bien unis
    Sur le champ de bataille
    Dans les cellules d’emprisonnement
    Au centre des camps d’extermination
    Confinés dans les goulags
    Déportés au fin fond des îlots sauvages.
    Sur les ruines de six millions de sépulcres d’innocents
    Voici poindre d’innombrables germes verdoyants
    Et voilà s’envoler vers un règne de paix
    Les ailes amples de l’Espérance…
    Les fossés d’injustices seraient comblés, grâce aux alluvions
    Les flammes de la terreur s’éteindront, sous la pluie providentielle
    Le jardin du cœur sera cultivé et entretenu, par les mains dévouées.
    Inspiré de confiance et d’humanité
    Chacun de nous se regarde l’un l’autre, le visage épanoui
    Daigne témoigner de la compassion pour autrui
    Et déplorer la condition humaine.
    Fraternels, nous manifestons par les chants, les danses, nos états d’âme
    Ensemble, nous sollicitons nous-mêmes, à une vie honnête et sincère
    Après plus de trente années d’oppression et de misères
    Notre existence de bête de somme, captive d’un ordre arbitraire
    Est sans avenir.
    Pour acquérir notre Liberté, nous ne pouvons pas quémander
    Qui d’autre a cueilli le fruit du bonheur, dont nous avions cultivé la plante?
    C’est ici notre terre natale
    De quel droit, l’Union soviétique impose-t-elle sa souveraineté?
    Pour qui devons-nous moissonner tous ces champs de froment doré?
    Au profit de quel pays s’acheminent nos trains de machines?
    Les wagons sont inondés de larmes, de sueur d’ouvriers.
    Durant l’hiver engourdissant
    Nous n’avons pas assez de charbon pour nous chauffer
    Nos épouses, souffrantes, cachent leurs peines dans le silence
    Nos enfants, rachitiques, languissent de malnutrition
    Le lait, la patate, les remèdes leur manquent.
    Repus de plaisir
    Le Parti et sa caste de féodaux s’assemblent pour discutailler
    Se livrant, au mépris de la population misérable
    À la réjouissance de somptueux festins royaux.
    Nos parents nous instruisent par le partage et la défense du faible
    Victime d’injustices
    Le Parti clame haut et fort
    La haine, la vengeance, la lutte sanglante des classes
    La digue est rompue au cœur du peuple
    Le raz de marée tourbillonne de courroux…

    Depuis ce jour… depuis ce soulèvement de Poznan
    Malgré leurs Forces de l’Air
    Leurs artilleries lourdes, leurs missiles nucléaires
    Leurs divisions de chars, de blindés
    Rien ne change leurs cauchemars obsédants.
    Jamais, ils ne parviendront jamais à sommeiller en paix
    Ils ont massacré nos frères à Berlin, à Budapest
    À Prague, au printemps; à Huê, Têt Mâu Thân
    À Vientiane, à Phnom Penh, à Kaboul
    Religieux, intellectuels, paysans, travailleurs, étudiants
    Ils n’en épargnent aucun.
    Ils se nourrissent d’illusions
    Croyant réussir à noyer notre peuple au fond du gouffre
    À nous fouler, nous terroriser, nous humilier
    Aucune pression ne peut donc ébranler la foi de la Pologne.
    Car depuis l’insurrection de Poznan
    Se succèdent Gdansk, Cracovie, Katowice
    Solidarność, avec dix millions d’ouvriers coalisés
    Comme les quatre vents des monts et forêts
    Comme les vagues géantes des océans
    Comme les galaxies des cieux.
    Les cœurs de nos frères des cinq continents de la Terre
    Battent au même rythme que les chants
    Qui s’élèvent, jour et nuit, des mines, des gisements
    Des usines, des chantiers, des ports, des quartiers de la ville
    Et retentissant jusqu’aux quais des gares
    Aux bureaux de la presse, aux universités, aux églises.
    Jeune milicien de nuit, ne les entends-tu pas?
    Tâche de reconnaître le vrai visage de l’impérialisme
    Le spectre des ténèbres qui écrase nos boutons de roses
    Qui éteint nos chapelets de rires cristallins.
    Ô notre Liberté! Notre Indépendance! Notre Espérance!

    Avril Noir 1975
    Précipités dans leur chute
    Sài Gòn et le Viêt Nam du Sud, mon pays natal
    Sont mis à mort
    Boat people ayant failli périr en haute mer, quel miracle m’a ressuscité?
    Je vais à la rencontre de nos frères de plume emprisonnés
    De Hà Nôi à Pékin. De Pyongyang à Lhassa
    De Belgrade à Sofia. De La Havane à Bucarest.
    Je me rends à Granada, sur la tombe de Federico Garcia Lorca
    À Santiago, me recueillir à la mémoire de Pablo Neruda
    À Terezin, en pèlerin, sur les lieux de déportation de Robert Desnos.
    J’avance dans Paris de Victor Hugo et de Paul Éluard
    J’avance sur New York de la déesse de la Liberté
    La veilleuse tenace, en dépit des tornades, maintient avec fermeté
    Le flambeau de la foi, hissé du haut de son bras fervent
    Mes frères, mes sœurs, mes amis
    Je souhaite ne jamais manquer à votre appel
    Puissé-je avoir l’honneur de me faire l’écho de vos voix.

    Ô Polska! Polska! Ma Polska insoumise
    Au plus profond de tes infortunes, je te sais une bravoure infinie
    À l’image des assassinés, des disparus, nos défenseurs inconnus
    Ma mémoire, sur l’heure, s’illumine
    Me donne les forces de vie, des millénaires historiques
    Me donne du calme, pour achever le poème indigné.
    Vous qui, jusqu’alors, n’avez osé défendre les sentiments humains
    Approchez! Approchez au plus près!
    Regardez la vérité d’aujourd’hui
    Ne la taisez pas, ne lui tournez pas le dos
    Ne baissez pas la tête, complices.
    Écoutez!
    Des coups de bottes de Zomo font sauter les portes
    Le tumulte des persécutions, comme si l’on pourchassait le gibier
    Des claquements de fouets, de matraques, en furie
    Le grincement des dents. Des pleurs d’enfants
    Des appels au secours de femmes pour leurs maris
    Le bruit strident des chenilles métalliques de chars d’assaut
    Implacablement écrasantes.
    Ô les limbes de cristal des âmes innocentes!
    On bouche le gosier. On se débat. On crie à bout de force
    On étrangle la gorge. On rit. Grossier!
    Tandis que les giboulées de neige se précipitent
    Accablantes, comme un temps d’orage
    L’heure s’arrête. L’Univers se tait.
    Or de loin, les coups de feu ne cessent de crépiter
    Ils avancent en même temps que la nuit
    Nuit de Guernica… Nuit d’Oradour…Nuit d’Auschwitz
    Après la Tchécoslovaquie, trahie à Munich
    S’ensuit la nuit de Pologne.
    De tous ces événements tragiques qui s’enchaînent et font dates
    Nous ne pouvons en omettre aucun
    À Wujek, l’ennemi a tiré droit sur nos frères ouvriers
    À Gdansk aussi, par les balles soviétiques, le sang a coulé.
    Mère de Polska! Laisse-moi donc sécher tes larmes
    Partager la plaie profonde qui déchire ton cœur
    Je sais bien que je vais mourir, une fois de plus
    La face reposée sur les épaules de mes frères bien-aimés.
    La ferveur constante de la Fraternité
    Réfléchissant le halo lumineux du Soleil de vérité
    Se cristallisera en sel efflorescent
    Qui va dissoudre la couche de sang noir verglacé
    Au bord de la Baltique.
    Le sang des innocents, victimes du fascisme rouge
    La nuit funeste d’état de siège, au couvre-feu
    Se reflète sur la physionomie d’un peuple en deuil.
    Jeune soldat de Polska, ne les entends-tu pas?
    Goutte à goutte, sur chaque touche de ses préludes
    Chopin épanche ses chaudes larmes
    Les larmes de l’Amour humain qui débordent de son cœur
    On dirait les cris de douleur de l’oiseau égaré, l’aile brisée!
    Aussi, le gai petit ruisseau familier
    Change-t-il son gazouillement sur un ton plaintif
    Quand le Chopin Express approche de la zone minière
    La sirène funèbre remplace le tintement du glas.
    Ô Ciel! Jusqu’à Toi, montent les atrocités criminelles
    D’une meute d’assassins, traîtres à leur patrie!
    Frère de Polska, ne t’en souviens-tu pas?
    Combien de miroirs resplendissants…
    Pologne des enfants dignes de la nation
    Varsovie avait signé la défaite de l’Armée bolchevik
    À la Vistule, de nouveau, ils seront vaincus.

    Cette nuit, au fond du gouffre infernal
    Notre conviction s’accroît. La vie refleurira, demain
    Nous nous en reviendrons, main dans la main, célébrer nos retrouvailles.
    L’épi, la rose: parfums et beautés de l’avenir
    Jeune enfance, tu ne plieras plus tes genoux
    Pour cirer les chaussures
    On ne vivra plus sa vie, sans dignité.
    Peindre la Paix, ne se fera plus derrière les barbelés
    Plus de camps de rééducation infamante, aux travaux forcés
    Ni le mur de la honte
    L’arche de la Tolérance sera rétablie entre les cœurs de l’homme.
    Les asiles psychiatriques
    N’obséderont plus la conscience des intellectuels
    Osant dire la vérité sur l’impérialisme et ses subordonnés fantoches.
    Poètes, écrivains, journalistes
    Nous ne courberons plus jamais nos plumes
    Cette volonté, nous allons l’affûter; nous allons l’approfondir
    Sans abandonner.

    Chantons avec la Pologne, chantons avec le Viêt Nam
    Chantons dans la foi et dans la communion
    Pour changer le monde.
    De myriades d’étoiles nous accompagnent en route
    Ces mèches de feu, ténues mais perpétuelles, s’illumineront longtemps
    Ces yeux attentifs cherchent à communiquer aux nôtres
    Leurs immuables reflets lointains.
    Les bourreaux peuvent nous torturer, nous exiler, nous tuer, nous assassiner
    La nuit impassible s’obstine dans la haine, dans l’injustice, dans le mensonge
    Mais, déjà, l’âme de la Pologne est multipliée
    Par les dimensions prodigieuses du cosmos, démesurément grandioses.
    Ramassons les feuilles mortes
    Épreuves douloureuses!
    Nous allumons la torche qui éclaire notre chemin
    Après chaque culbute
    Nos compagnons de route, nos frères, nos sœurs, nos amis se redressent
    Nous nous soutenons, nous nous resserrons les coudes.
    Nul hiver ne peut empêcher le rameau caduc de bourgeonner
    À sa nouvelle frondaison
    Et le Printemps de l’humanité souriant
    Esquisse ses pas fleuris de lotus
    De toute grâce, envolés.

    Puissé-je avoir le bonheur d’accorder la note Espérance
    À la Marche chorale intitulée: Ma Polska insoumise
    Chanter avec Solidarność, je ne chante pas seul
    La nuit féroce refluera, face à l’Aurore…
    Noël 81
    Nguyên Hoàng Bảo Việt

    Original en vietnamien: ‘’Hát Với Solidarność’’
    extrait du Recueil de Poèmes ‘’ Dấu Tích Phượng Hoàng ‘’
    version française par Mme Hoàng Nguyên
    extrait du Recueil de Poèmes ‘’ l’Empreinte du Phénix’’
    Editions Bạn Văn Paris 2008
    version anglaise par Nguyên Hoàng Bảo Viêt
    version polonaise par Mme Małgorzata Bąbelek (Gosia Babelek)

    * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * * *

  2. Lê Nguyên Hoàng Minh nói:

    HÁT VỚI SOLIDARNOSC
    ———————————
    Hát Với Solidarność

    Một thuyền nhân Việt Nam xin được góp tiếng hát
    Với anh chị em Ba Lan đêm Chúa ra đời
    Với Popieluszko cùng Solidarność
    Hát cho Hy Vọng, mùa Xuân, Phẩm giá con người.

    Polska ơi! Polska ơi! Polska ơi! bất khuất
    Cảm xúc nào hâm nóng trái tim tôi
    Chúng ta từng sống và từng chết
    Ngoài chiến trường và trong ngục tù
    Giữa trại tập trung cuối trời hoang đảo
    Trên điêu tàn đổ nát sáu triệu nấm mồ
    Nhú lên lớp lớp những mầm non xanh biếc
    Tung cánh ước mơ đến một thế giới thanh bình.
    Hố bất công nhờ phù sa khỏa lấp
    Lửa bạo hành sẽ tàn lụi dưới cơn mưa
    Vườn Nhân ái góp bàn tay vun xới
    Người người nhìn quen với nét mặt tin yêu
    Chúng ta cũng biết xót thương biết khóc
    Dàn trải tâm tình qua điệu múa lời ca
    Sống với nhau một đời chân thật.
    Sau hơn ba mươi năm áp bức đọa đày
    Kiếp trâu ngựa tìm đâu thấy ngày mai
    Muốn Tự do không thể van xin mà được
    Ai hái trái cây hạnh phúc ta gieo trồng
    Đất nước ta cớ sao Liên Sô làm chủ
    Ta gặt cho ai lúa chín trên đồng?
    Hướng về đâu những chuyến tàu máy móc
    Toa xe đầy ắp mồ hôi nước mắt lao công
    Nhà ta suốt mùa rét thiếu than để sưởi
    Vợ ta buồn đau giấu kín trong lòng
    Con ta gầy yếu không đủ sữa đủ thuốc
    Đảng họp bàn yến tiệc mặc dân chúng lầm than
    Cha mẹ dạy ta giúp người hàm oan cô thế
    Đảng hô hào hận thù giai cấp đấu tranh
    Đê vỡ trong lòng dân, sóng cuộn lên nỗi bất bình…

    Từ ngày đó… từ cuộc nổi dậy ở Poznan
    Giặc bố trí hàng vạn phi cơ đại bác
    Hỏa tiễn hạch tâm, cả trăm sư đoàn thiết giáp
    Chẳng thay đổi được gì cơn ác mộng triền miên
    Không bao giờ chúng ngủ được yên
    Chúng thảm sát bạn ta ở Berlin, ở Budapest
    Ở Prague mùa Xuân, ở Huế Tết Mậu Thân
    Không bỏ sót một ai bị nghi ngờ chống đối
    Tu sĩ, công nông, giáo chức, sinh viên, văn giới
    Từ Vientiane, Phnom Penh, rồi đến Kaboul.
    Nuôi ảo tưởng dìm chúng ta xuống bùn đen tủi nhục
    Nhưng áp lực nào lay chuyển nổi Ba Lan!
    Vì từ ngày đó… từ cuộc nổi dậy ở Poznan
    Đã nối tiếp Gdansk, Cracovie, Katowice
    Solidarność, mười triệu anh em liên kết
    Như gió ngàn, như sóng biển, như trời sao
    Trái tim năm châu đập cùng nhịp với nhau
    Hòa lẫn tiếng hát ngày đêm vang lên từ hầm mỏ
    Từ nhà máy, công trường, bến tàu, góc phố
    Đến sân ga, tòa báo, lớp học, giáo đường
    Nghe thấy không hỡi người lính trẻ đi tuần đêm?
    Hãy nhận rõ hình thù bóng đen đế quốc
    Đang giẵm nát những búp hồng Tự do Độc lập
    Đang dập tắt những chuỗi cười Hy vọng Tương lai.
    Tháng Tư đen, Sài Gòn Việt Nam tôi bị bức tử
    Suýt chết giữa biển Đông phép lạ nào giúp tôi hồi sinh?
    Tôi đi tới … hỡi những bạn tù chưa hề biết mặt
    Từ Hà Nội đến Bắc Kinh, Bình Nhưỡng đến Lhassa
    Từ Belgrade đến Sofia, La Havane đến Bucarest
    Tôi đi tới Granada với Federico Garcia Lorca
    Santiago với Pablo Neruda, Terezin với Robert Desnos
    Tôi đi tới Paris của Victor Hugo và Paul Éluard
    Tôi đi tới Nữu Ước của nữ thần Tự do
    Mùa giông bão vẫn giơ cao ngọn đuốc
    Tôi muốn có mặt mỗi lần nghe gọi tên
    Làm tiếng dội lời anh em từ ngục tối.

    Polska ơi! Polska ơi! Polska ơi bất khuất!*
    Dưới đáy sâu bất hạnh lòng dũng cảm vô biên
    Trí nhớ chợt sáng lên hình ảnh những người đã chết
    Bị ám sát, mất tích…các liệt sĩ vô danh
    Cho tôi sức sống mấy ngàn năm lịch sử
    Cho tôi điềm tĩnh viết nốt bài thơ phẫn nộ.
    Những ai chưa dám bênh vực tình cảm con người
    Hãy xích lại gần, nhìn sự thật hôm nay
    Đừng quay lưng nín câm, cúi đầu đồng lõa
    Đây tiếng giày Zomo đạp tung từng cánh cửa
    Tiếng lục soát bắt người như săn thú giữa rừng hoang
    Tiếng roi vọt điên cuồng lẫn tiếng nghiến răng
    Tiếng vợ kêu cứu cho chồng, tiếng trẻ thơ khóc ngất
    Tiếng giây xích chiến xa lạnh lùng nghiền nát
    Ôi những phiến tâm hồn trong suốt thơ ngây!
    Tiếng bịt miệng, tiếng giãy giụa la hét mệt nhoài
    Tiếng bóp cổ, tiếng cười rú lên thô bạo
    Tiếng tuyết rơi nặng nề như trời mưa bão
    Tiếng thời gian dừng lại rồi bỗng vắng im.
    Tiếng súng xa không ngớt vọng về theo mỗi bước đêm
    Đêm Guernica…đêm Oradour…đêm Auschwitz
    Sau Tiệp Khắc, đêm Ba Lan khởi đầu từ Munich
    Trong chuỗi dài những biến cố không thể nào quên
    Ở Wujeck giặc bắn thẳng vào anh em công nhân
    Máu lại đổ ở Gdansk vì những viên đạn sô viết.
    Mẹ Ba Lan ơi! cho tôi được lau nước mắt
    Được đau nơi vết thương giữa trái tim Người
    Tôi biết trước một lần nữa tôi sẽ chết
    Úp mặt trên vai anh em tôi yêu quý vô cùng
    Bằng hữu thủy chung rạng ngời ánh mặt trời chân lý
    Sẽ bốc cháy biến thành những hạt muối sương
    Làm tan rã lớp máu đen đóng giá trên bờ Baltique
    Máu vô tội đêm giới nghiêm phát xít
    Phản chiếu lên sắc mặt một dân tộc chịu tang
    Nghe thấy không hỡi người lính trẻ Ba Lan?
    Chopin đang nhỏ lệ xuống từng nốt nhạc
    Lệ nhân ái chứa chan trong lồng ngực
    Như tiếng chim lạc bầy gãy cánh kêu thương
    Con suối vui quen cũng đổi giọng đau buồn
    Lúc chuyến tàu tốc hành đến gần khu hầm mỏ
    Tiếng còi mặc niệm thay cho hồi chuông báo tử
    Tội ác ngất trời, bè lũ phản bội quê hương!
    Em chẳng còn nhớ sao? biết bao tấm gương
    Vì Tổ quốc đồng bào hy sinh tuẫn tiết
    Varsovie từng đẩy lui hồng quân Bolcheviks*
    Tiến đến Vistule, cuối cùng giặc sẽ vỡ tan.

    Đêm nay từ hố thẳm địa ngục trần gian
    Chúng ta vững tin mai sau đời sẽ nở đẹp
    Buổi đoàn viên tay nắm tay liên hoan múa hát
    Bông lúa và búp hồng, hương sắc tương lai
    Tuổi thơ ơi! em không còn quỳ gối đánh giày
    Không còn nữa cuộc đời quên phẩm giá
    Tranh Hòa bình không vẽ giữa rào kẽm gai
    Không còn trại cải tạo khổ sai, bức tường ô nhục
    Nhịp cầu bao dung bắc lại giữa lòng người
    Nhà thương điên thôi ám ảnh lương tâm trí thức
    Nói lên sự thật về đế quốc và tay sai
    Ký giả thi nhân không còn bẻ cong ngòi bút
    Ta mài thật sắc khơi thật sâu ý chí này!

    Hát với anh em Ba Lan, hát với Việt Nam tôi
    Hát với lòng tin cảm thông đổi thay thế giới
    Đi với chúng ta còn có ức triệu vì sao
    Những ngọn nến tuy mong manh sẽ cháy sáng rất lâu
    Những ánh mắt đang tìm gặp nhau để nối tiếp
    Giặc có thể tra tấn lưu đày thủ tiêu bắn giết
    Đêm vẫn là đêm thù nghịch dối trá bất công
    Nhưng tâm hồn dân tộc Ba Lan đã được nhân lên
    Với kích thước vũ trụ không gian hùng vĩ
    Gom lá chết đau thương đốt ngọn đuốc soi đường
    Sau mỗi lần vấp ngã bằng hữu dìu nhau đứng dậy
    Đêm đông nào ngăn được cành khô nẫy lộc đâm chồi
    Xuân Nhân loại mỉm cười, gót sen thanh thoát…

    Cho tôi được góp vào bản hợp ca Hành khúc
    Thêm một tiếng Hy Vọng nữa, Polska ơi! bất khuất!
    Hát với Solidarność, tôi không hát một mình
    Đêm dã man này sẽ lùi bước trước bình minh.
    Mùa Giáng Sinh 81
    Nguyên Hoàng Bảo Việt

    Trích tập thơ Dấu Tích Phượng Hoàng
    Bạn Văn Paris xuất bản 2008

    * Polska: tên nước Ba Lan.
    * Năm 1920, Lénine đã xua đạo quân Bolcheviks vào tận Varsovie. Hồng quân phải rút lui sau khi bị thảm bại trước cuộc kháng chiến anh dũng của dân tộc Ba Lan .
    ——————————————————————————————-
    Śpiewać z SOLIDARNOŚCIĄ

    Jestem pokornym wietnamskim człowiekiem łodzi
    Wraz z moimi polskimi braćmi i siostrami, ludem umęczonym
    Wraz z Popiełuszką i Solidarnością
    Podnoszę mój głos tej nocy Bożego Narodzenia
    Gdy narodził się Chrystus
    By głosić Godność człowieka,
    Nadzieję, Wiosnę.

    O Polsko ! Polsko ! Moja Polsko niepoddana !
    Jakie uczucia ogrzewają więc moje serce !
    Przeżyliśmy, zniknęliśmy
    Na życie i śmierć, zjednoczeni
    na polu bitwy
    w celach więzień
    w obozach zagłady
    Odosobnieni w gułagach
    Wygnani na sam kraniec dzikich wysepek.
    Na pozostałościach grobów sześciu milionów niewinnych
    Wschodzą oto niezliczone zielone kiełki
    I oto unoszą się ku królestwu pokoju
    Rozległe skrzydła Nadziei …
    Rowy niesprawiedliwości zostały zasypane ziemią naniesioną przez rzekę
    Płomienie lęku wygasły pod deszczem opatrzności
    Ogród serca będzie odtąd uprawiany i utrzymywany przez oddane ręce
    Natchnione nadzieją i ludzkością
    Każdy z nas patrzy na drugiego, a twarz ma rozpromienioną
    Chce móc współczuć bliźniemu
    I opłakiwać ludzkość.
    W braterstwie, okazujemy poprzez śpiewy, tańce, stan naszych dusz
    Razem, domagamy się dla samych siebie, życia uczciwego i szczerego
    Po blisko trzydziestu latach ucisku i cierpień
    Nasz żywot stada zwierząt, poddanych despotycznym rządom
    Nie ma przyszłości.
    By przyjąć naszą Wolność, nie możemy żebrać
    Kto zerwał owoc szczęścia, którego krzew sadziliśmy?
    To tutaj jest nasza ziemia ojczysta
    Jakim prawem Związek Radziecki nałożył na nią swoje wszechwładztwo?
    Dla kogo musimy zbierać złotą pszenicę z tych pól?
    Na korzyść którego państwa wprawiamy w ruch maszyny?
    Wagony zalane są łzami, potem robotników.
    Podczas paraliżującej zimy
    Nie wystarcza nam węgla, byśmy się ogrzali
    Nasze małżonki, cierpiące, chowają swe troski w ciszy
    Nasze dzieci, wychudzone, usychają z niedożywienia
    Mleko, ziemniaki – to lekarstwa, których im brak.
    Syte przyjemności.
    Partia i jej kasta poddanych zbierają się, by rozmawiać o niczym
    Oddając się, lekceważąc nędzę ludu,
    Radowaniu z wystawnych uczt królewskich.
    Rodzice uczą nas dzielenia się i ochrony słabszego
    Ofiary niesprawiedliwości
    Partia głosi wysoko i donośnie
    Nienawiść, zemstę, krwawą walkę klas
    Tamy zrywają serca ludu
    Fale wirują gniewem

    Od tego dnia … od tego buntu Poznania
    Mimo ich Sił Powietrznych
    Ich ciężkich dział, ich broni nuklearnej,
    Ich dywizji czołgów, pojazdów pancernych
    Nic nie jest w stanie zmienić ich obsesyjnych koszmarów.
    Nigdy nie zdołają zasnąć w pokoju
    Zmasakrowali naszych braci w Berlinie, w Budapeszcie
    W Pradze, wiosną; w Huê, Têt Mâu Thân,
    W Wientianie, w Phnom Penh, w Kabulu
    Duchownych, intelektualistów, chłopów, pracowników, studentów,
    Nie oszczędzili żadnego z nich.
    Karmią się złudzeniami
    Wierząc, zdołają zatopić nasz lud w głębi otchłani
    Ogłupić nas, przerazić, upokorzyć
    Żaden nacisk nie może więc zachwiać wiary Polski
    Gdyż po powstaniu w Poznaniu
    Nastąpiły Gdańsk, Kraków, Katowice
    Solidarność, z dziesięcioma milionami zjednoczonych robotników
    Jak cztery wiatry z gór i lasów
    Jak ogromne fale oceanów
    Jak galaktyki niebios.
    Serca naszych braci z pięciu kontynentów Ziemi
    Biją w tym samym rytmie co śpiewy
    Które wznoszą się, w dzień i w nocy, z kopalni, z pokładów,
    Z fabryk, z placów budowy, z portów, z dzielnic miasta,
    I rozbrzmiewają na dworcowych peronach,
    W redakcjach gazet, na uniwersytetach, w kościołach.
    Młody milicjancie na nocnym patrolu, nie słyszysz ich?
    Obowiązku odkrycia prawdziwego oblicza imperializmu
    Widmo piekieł które miażdży pączki róż
    Który tłumi różańce naszych czystych śmiechów
    O nasza Wolności! Nasza Niezależności! Nasza Nadziejo !

    Czarny kwiecień 1975
    Zepchnięte w ruinę
    Sajgon i Południowy Wietnam, moja ojczyzna
    Są skazane na śmierć
    Człowiek łodzi nie zginął na pełnym morzu, jaki cud powrócił mnie do życia?
    Przybywam spotkać się z uwięzionymi braćmi w piórze
    Od Hanoi do Pekinu. Od Pyongyang do Lhasy.
    Od Belgradu do Sofii. Z Hawany do Bukaresztu.
    Zmierzam ku Granadzie, do grobu Frederica Garcii Lorca
    Do Santiago, zgromadzić cześć pamięci Pabla Nerudy
    Do Terezina, pielgrzymując do miejsca deportacji Roberta Desnos.
    Idę ku Paryżowi Wiktora Hugo i Paula Eluarda
    Idę ku Nowemu Jorkowi, gdzie bogini Wolności
    Wytrwała strażniczka, mimo burz, trzyma nieugięcie
    Płomień wiary, uniesiony wysoko jej silnym ramieniem
    Moi bracia, moje siostry, moi przyjaciele
    Pragnę nigdy nie odmawiać waszemu wołaniu
    Mógłbym mieć zaszczyt być echem waszych głosów.
    O Polsko! Polsko! Moja Polsko niepoddana
    Z największej głębi twoich nieszczęść, wierzę w twoje nieskończone męstwo
    Wizerunkiem zamordowanych, zaginionych, naszych nieznanych obrońców
    Moja pamięć, o czasie, oświetla się
    Daje mi siły do życia, tysiące lat historii
    Dają mi spokój, by stworzyć niegodny ich wiersz.
    Wy, którzy więc nie ośmieliliście się bronić ludzkich uczuć
    Podejdźcie ! Podejdźcie jak najbliżej !
    Ujrzyjcie prawdę dnia dzisiejszego
    Nie milczcie, nie odwracajcie pleców,
    Nie spuszczajcie głów, współwinni.
    Usłyszcie !
    Stukot butów Zomo przeskakuje drzwi
    Niepokój pościgu, jak gdyby tropiono zwierzynę,
    Uderzenia batów, pałek, we wściekłości
    Zgrzytanie zębów. Płacze dzieci
    Wołania kobiet o pomoc dla ich mężów
    Przenikliwy dźwięk metalicznych gąsienic napierających czołgów
    Nieubłagalnie miażdżących.
    O krystaliczne otchłanie niewinnych dusz!
    Zatykamy gardło. Walczymy. Krzyczymy z całych sił.
    Duszą nam gardło. Śmieją się. Grubiaństwo !
    Podczas gdy padający śnieg z deszczem
    Przytłacza, jak podczas burzy
    Czas staje w miejscu. Wszechświat milczy.
    Nawet w dali, odgłosy strzałów nie przestają trzeszczeć
    Idą w tym samym czasie co noc
    Noc w Guernice, Noc w Oradour, Noc w Auschwitz,
    Po Czechosłowacji, zdradzonej w Monachium
    Następuje noc Polski.
    Ze wszystkich tych tragicznych zdarzeń, które łączą się i tworzą daty
    Nie możemy pominąć żadnego
    W kopalni Wujek, wróg strzelał prosto do naszych braci robotników
    W Gdańsku także, radzieckimi kulami, popłynęła krew.
    Matko Polsko! Pozwól mi więc wysuszyć twe łzy
    Podzielić głęboki ból który rozdziera twe serce
    Dobrze wiem, że umrę , jeszcze jeden raz
    Z twarzą na ramionach moich ukochanych braci.
    Nieustający zapał Braterstwa
    Odbija świetlistą aureolę Słońca prawdy
    Skrystalizuje się w nalot z soli
    Który rozpuści lodowate plamy czarnej krwi
    Na brzegu Bałtyku.
    Krew niewinnych ofiar czerwonego faszyzmu
    Żałobna noc oblężenia, podczas godziny policyjnej
    Odbija się wyraz twarzy ludu w żałobie.
    Młody polski żołnierzu, nie słyszysz ich?
    Kropla do kropli, w każdym dźwięku swoich preludiów
    Chopin wylewa swoje gorzkie łzy
    Łzy Miłości ludzkiej które wychodzą z jego serca
    Jakby krzyk cierpienia zabłąkanego ptaka, złamanego skrzydła!
    Tak więc, miły, nieduży, dobrze znany strumień
    Czy zmieni swoje szemranie w ton skargi
    Gdy Chopin Express zbliży się do obszaru górniczego
    Syrena pogrzebowa zastąpi dźwięk dzwonów.
    O Niebo! Aż do Ciebie wznoszą się zbrodnicze okrucieństwa
    Bandy morderców, zdrajców swojej ojczyzny!
    Polski bracie, nie przypominasz sobie?
    Jak wiele lśniących luster…
    Polska dzieci godnych narodu
    Warszawa przypieczętowała upadek Armii bolszewickiej
    Na Wiśle, ponownie, zostali pokonani.
    Tej nocy, w głębi piekielnej otchłani
    Nasze powołanie wzrasta. Życie rozkwitnie, jutro
    Powrócimy do niego, ręka w rękę, świętować nasze odnalezienie.
    Kłos, róża: zapachy i piękno przyszłości
    Młodości, nie zegniesz nigdy więcej swoich kolan
    By czyścić woskiem buty
    Nie będziemy przeżywać już nigdy życia bez godności
    Malowanie Pokoju, nie zrobimy tego już nigdy za drutem kolczastym
    Nigdy więcej niesławnych obozów reedukacji, pracy przymusowej,
    Ani muru wstydu
    Pomiędzy sercami ludzi stworzymy Łuk Tolerancji.
    Ośrodki odosobnienia psychiatrycznego
    Nie będą zaprzątać już świadomości intelektualistów
    Którzy ośmielili się głosić prawdę o imperializmie i jego marionetkowych poddanych.
    Poeci, pisarze, dziennikarze
    Nie zegniemy już nigdy naszych piór
    Tą chęć będziemy ostrzyć, pogłębiać
    Nie porzucimy jej.

    Śpiewajmy razem z Polską, śpiewajmy z Wietnamem
    Śpiewajmy w wierze i komunii
    By zmieniać świat.
    Miriady gwiazd towarzyszą nam w drodze
    Te ślady ognia, słabe ale wieczne, będą jaśnieć długo
    Te uważne oczy będą szukać kontaktu z naszymi
    Ich niezmiennymi dalekimi odbiciami.
    Kaci mogą nas torturować, wygnać, zabić, zamordować.
    Obojętna Noc trwa w nienawiści, niesprawiedliwości, kłamstwie
    Ale, już, dusza Polski się rozmnożyła
    W cudowne rozmiary kosmosu, zbyt imponujące.
    Zbierzmy umarłe liście
    Cierpiące dowody !
    Zapalmy latarnię która oświeci naszą drogę
    Po każdym przewrocie
    Nasi towarzysze drogi, nasi bracia, nasze siostry, nasi przyjaciele, prostują się
    Podtrzymujemy się, zacieśniamy łokcie.
    Żadna zima nie zdoła powstrzymać
    Wątłych gałęzi pączkujących
    Nowymi zielonymi liśćmi
    I Wiosny radosnej ludzkości
    Która kreśli swoje kroki kwieciem lotosu
    Z całym wdziękiem, uleciałych.

    Mógłbym mieć szczęście nadać dźwięk Nadziei
    Chóralnemu Marszowi zatytułowanemu: Moja Polska niepoddana
    Śpiewać z Solidarnością, nie śpiewam sam jeden,
    Noc okrutna zakwitnie w obliczu Jutrzenki.
    Boże Narodzenie 81
    Nguyên Hoàng Bảo Việt

    Tłumaczenie: Małgorzata Bąbelek
    Fragment ze zbioru wierszy ‘’Piętno Feniksa”
    Wydawnictwo Ban Van 2008, Paryż

  3. Lê Nguyên Hoàng Minh nói:

    LÁ THƯ CUỐI NĂM CỦA LIÊN HỘI NHÂN QUYỀN VIỆT NAM Ở THỤY SĨ
    Hát với Solidarność
    Ba mươi năm sau từ Genève Thụy Sĩ
    và Varsovie Ba Lan hướng về Việt Nam

    Ba mươi năm trước, trong một Đêm Giáng Sinh đầu thập niên 80 (Giáng Sinh 1981), một nhà thơ Việt Nam tị nạn Cộng sản, mang theo mảnh đất quê hương thân thiết khi vượt biển, đã “hát với anh chị em Ba Lan, hát với Việt Nam tôi”… Hát với Solidarność… một bài thơ đã được đài Âu châu Tự do (Radio Europe Libre) giới thiệu với nhân dân Ba Lan đang tranh đấu “cho Hy Vọng, Mùa Xuân, Phẩm Giá Con Người”. Lúc đó, anh chị em Ba Lan, Công đoàn Solidarność, bị chế độ “phát xít đỏ”, do Liên Sô cưỡng đặt, đàn áp khốc liệt. Báo mật vụ công an cộng sản Ba Lan đã lên tiếng công kích tác giả bài thơ và buổi phát thanh của đài Âu châu Tự do. Thính giả người Ba Lan đã cắt bài báo đó rồi kín đáo gởi cho đài. Hát với Solidarność được bà Hoàng Nguyên, một thuyền nhân tị nạn Cộng sản định cư tại Genève Thụy Sĩ, chuyển dịch ra tiếng Pháp, gây nên sự xúc động sâu xa nơi nhiều người đọc, nhứt là cộng đồng Ba Lan lưu vong cùng giới trí thức, nhà văn, nhà thơ Pháp. Triết gia Leszek Kolakowski, nguyên phát ngôn nhân Phong trào Dân chủ Đối lập, cố vấn cho Solidarność, dạy tại trường đại học Oxford, cho biết ông đã đọc bài thơ đó giữa mùa đông ở Anh quốc trong lúc quê hương còn bị đọa đày khổ nhục. Tháng 6 năm 1999, ông đã đọc một bài diễn văn thật quan trọng để khai mạc Đại Hội Thế Giới Văn Bút Quốc Tế ở Varsovie, nước Ba Lan hậu cộng sản. Dịp đó là lần đầu tiên ông gặp nhà thơ Việt Nam. Từ Vatican, Đức Giáo Hoàng Jean Paul II gởi lời cám ơn và khích lệ tác giả bài thơ cùng người dịch. Văn thư bày tỏ xúc động và cảm tình còn đến từ hai nhà văn triết gia Simone de Beauvoir và Raymond Aron, nhà thơ Pierre Emmanuel, nhà văn Jean d’Ormesson, nhà thơ Léopold Sédar Senghor (cựu tổng thống Sénégal), sử gia Tadeusz Wyrwa, nhà trí thức Paul Thibaud, giám đốc chủ biên tạp chí Esprit, mục sư Eric Fuchs, giáo sư Khoa Thần học đại học Lausanne, v.v.
    Mười năm sau khi Hát với Solidarność, đúng vào ngày 25 tháng 12 năm 1991, ông Mikhaïl Gorbatchev loan báo ông chính thức từ chức Chủ tịch Liên Sô trong một bản Tuyên bố để chấm dứt cuộc hấp hối đau đớn của chế độ Liên Bang Cộng Hòa Xã Hội Sô Viết đã kéo dài trong nhiều tháng. Ông Mikhaïl Gorbatchev quyết định đọc bản Tuyên bố ngay đêm 24 tháng 12 năm 1991, tức là Đêm Giáng Sinh. Cuối cùng, ông đã nghe lời khuyên của Andreï Gratchev, người phát ngôn thân tính của ông, dời lại 24 tiếng đồng hồ. Mục đích là để cho cộng đồng tín đồ Thiên Chúa giáo La Mã trên thế giới được làm lễ Giáng Sinh với tâm trí bình yên. Sự từ chức đột ngột và sự sụp đổ chớp nhoáng của cái gọi là ‘’thành trì xã hội chủ nghĩa’’ của mấy nước chư hầu tùy tinh (như chế độ Cộng sản Hà Nội) sẽ là một đại biến cố lịch sử có thể tạo ra những sự nhiễu loạn, xáo trộn bất ngờ đối với tâm trí của rất nhiều người ở khắp năm châu. Hát với anh chị em Ba Lan, hát với Việt Nam tôi”… Hát với Solidarność trong Đêm Giáng Sinh 1981 để mười năm sau, Đêm Giáng Sinh 1991, thấy khối Cộng sản Liên Sô – Đông Âu bắt đầu sụp đổ lúc trời rạng đông.
    Hai mươi lăm năm sau, chúng tôi phổ biến bài thơ Hát với Solidarność của thi hữu Nguyên Hoàng Bảo Việt để chào mừng Hội Nghị Quốc Tế về Quyền Lao Động Việt Nam đã diễn ra tại trụ sở Thượng viện giữa thủ đô Warszawa (Varsovie) của nước Ba Lan Tự Do, từ ngày 28 đến 30 tháng 10 năm 2006. Theo Thông cáo của Ban Tổ chức, Hội Nghị được sự đồng tình bảo trợ của nhiều nhà lập pháp Ba Lan, Công đoàn Đoàn Kết Solidarność và Ủy Ban Bảo Vệ Công Nhân Ba Lan. Công an Cộng sản Hà Nội đã bạo hành để ngăn chận nữ luật sư Lê Thị Công Nhân lên máy bay đi Varsovie, mang theo một bài thuyết trình cho Hội Nghị.
    Rồi ba mươi năm sau, Hát với Solidarność để biết cười biết khóc với anh chị em Bắc Phi, Trung Cận Đông không còn sợ nữa, đã đứng lên, nắm tay nhau cùng đi tới. Hát với Solidarność để biết thương xót và trân quý những cánh hoa Lài mới nở, mong manh, rướm lệ máu, không bao lâu trước mùa Giáng Sinh 2010. Những cánh hoa Lài làm nhớ tới Việt Nam, nhớ tới những búp sen chưa ngoi lên từ những đầm lầy sau 30 tháng tư 1975 khi cả nước bị chiếm đóng tàn nhẫn. Tiếc thay vì sự hiện hữu dù giới hạn của những nhân tố bảo thủ, Mùa Xuân của các Dân tộc chưa được bừng nở những vườn hoa tự do đầy hương sắc trên bờ Địa Trung Hải, dọc theo dòng sông Nil…Tuy nhiên những ngọn đuốc Hy Vọng cho Nhân Phẩm, cho Tình Người, cho Tự Do Dân Chủ, cho Công Bằng Xã Hội, luân phiên bùng cháy từ thành phố nhỏ Sidi Bouzid, đã soi rọi được những đêm đen từng phủ trùm lên các quảng trường ở Tunis, ở Le Caire, ở Alexandrie… Cảm động biết bao những hình ảnh hào hùng của những đợt sóng đại dương những người trẻ tuổi, chỉ có tay trần với quyết tâm phá tan xích xiềng nô lệ, ngày đêm đổ về quảng trường Tahrir giữa thủ đô Ai Cập.
    Qua Đêm Giáng Sinh 2011, chúng tôi muốn cùng với tác giả bài thơ Hát với Solidarność gởi về Việt Nam, niềm Tin chung vào sự tất thắng cuối cùng của Chính nghĩa Dân tộc và Nhân bản. Trên đất nước bất hạnh và giữa lòng Dân tộc Việt Nam bất khuất của chúng ta, những người thật lòng yêu nước thương đồng bào, bất chấp sự trấn áp tàn bạo của chế độ độc tài cộng sản tha hóa và nhũng lạm, tiếp tục kiên cường tranh đấu cho Nhân Quyền, cho Tự Do Dân Chủ, cho Công Bằng Xã Hội, cho Hoàng Sa, Trường Sa, Nam Quan, Bản Giốc, Cao Nguyên, cũng như Hà Nội, Huế, Sài Gòn không còn bị chiếm đóng, cho Hy Vọng Mùa Xuân, Phẩm Giá Con Người.
    Sắp hết năm, với những lời Cầu Nguyện Bình An, tâm tưởng chúng tôi hướng về những tù nhân chính trị, ngôn luận và lương tâm Việt Nam. Hướng về thân nhân, gia đình của những người đang gánh vác đại khổ nạn của dân tộc. Hướng về những nhà đối kháng dân chủ, bênh vực Nhân Quyền – tu sĩ, công nông, giáo chức, sinh viên, văn giới, nhà báo, luật sư, tác giả bút ký điện tử, v.v – đang bị hành hạ, làm nhục và lưu đày ngay trên quê hương thân yêu của mình. Hướng về biển Đông và các vùng biển Đông Nam Á, hỏi thăm từng hải đảo, như đi hành hương, để không quên hàng trăm ngàn đồng bào thuyền nhân đã chết thảm hoặc mất tích trên đường đi tìm tự do và tình người. Nhứt là chúng ta cùng nhau tưởng nhớ đến những người yêu nước đã bỏ mình trong ngục tù thực dân và cộng sản, những chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa, như liệt sĩ Ngụy Văn Thà và đồng đội đã anh dũng hy sinh tại Hoàng Sa cho lá quốc kỳ của một đất nước Tự Do còn hiên ngang bay trên bầu trời thế giới đến hôm nay và mai sau.
    Và chúng ta hướng về quê hương đang bị chiếm đóng và vong thân với cơ nguy bị Hán-hóa :
    Đằng sau những cánh cửa sổ
    Khép vội trước mũi súng sát nhân
    Sài Gòn đâu đã thất thủ
    Thầm thì những lời ru con
    Thay cho tiếng nói
    Giặc đã cưỡng đoạt
    Trên tháp chuông trơ vơ
    Thập tự giá phô tấm lòng nhân ái
    Dưới mái chùa hiu vắng
    Hạnh từ bi nở ngát tòa sen
    Bóng đen bầy quạ dữ
    Bay vây quanh.

    (Chúng) tôi đếm
    Bấy nhiêu ngọn nến
    Bao nhiêu nhánh mặt trời Tự do
    Sẽ mọc lại.
    (Chúng) tôi đếm
    Bấy nhiêu giọt sương long lanh
    Bao nhiêu chuỗi cười ròn rã
    Bao nhiêu lớp người nô lệ
    Sẽ đứng lên. (Kẻ Sống Sót – Thơ NHBV 1978)

    Kính gởi đến quý bạn đọc và quý diễn đàn những lời Cầu Chúc Tốt Lành như mong ước.

    Genève mùa Giáng Sinh 2011
    Liên Hội Nhân Quyền Việt Nam ở Thụy Sĩ
    Ligue Vietnamienne des Droits de l’Homme en Suisse
    Vietnamese League for Human Rights in Switzerland
    (Còn tiếp … HÁT VỚI SOLIDARNOSC, tiếng Việt – Ba Lan – Anh và Pháp )

  4. Lê Nguyên Hoàng Minh nói:

    VIẾT LÊN SỰ THẬT CHO NHỮNG NGƯỜI Ở SAU SONG SẮT CỦA ĐỊA NGỤC
    Bản Tin Liên Hội Nhân Quyền Việt Nam ở Thụy Sĩ

    Để còn nhớ đến các anh chị em bị đối xử dã man, vô nhân đạo,
    hạ thấp phẩm giá con người trong các trại tù tập trung của Cộng sản Việt Nam

    ‘’Viết lên sự thật cho những người ở sau song sắt của địa ngục’’. Đó là tựa một bài viết (tiếng Pháp) của nhà thơ Nguyên Hoàng Bảo Việt in nơi trang đầu của tập tài liệu Thông Tin đặc biệt về các Nhà Văn và Nhà Báo bị Cầm tù (Bulletin des Ecrivains en Prison) của Trung tâm Văn Bút Thụy Sĩ Pháp thoại. Tài liệu này đã được phổ biến rộng rãi trong Ngày các Nhà Văn Bị Cầm Tù (15 tháng 11 năm 2011) do ba Trung tâm Văn Bút Thụy Sĩ Đức thoại, Ý thoại và Pháp thoại hợp tác tổ chức tại ba thành phố Zurich, Lugano và Genève (Thư viện chính của thành phố Genève). Bài viết còn được đăng trên một số nhựt báo Thụy Sĩ, gồm cả Trang Thông Tin điện tử về Ngày Thế giới các Nhà Văn bị Cầm tù. Tờ báo ngôn luận độc lập Le Courrier ở Genève đã dành gần hai phần ba trang báo lớn cho bài viết này. Trước đó, hai bài viết khác của nhà thơ Nguyên Hoàng Bảo Việt, ‘’Chúng ta đừng quên các Nhà Văn và Nhà Báo bị Đàn áp’’ được đăng trên tờ báo Le Temps ngày 9 tháng 11 năm 2011 và ‘’Mễ Tây Cơ, nhiều Nhà Báo bị bức hại’’ trên nhựt báo Tribune de Genève ngày 1 tháng 11 năm 2011. Các văn hữu hoạt động ở Trung Ương Văn Bút Quốc Tế cũng như ở một số Trung tâm Văn Bút đã gởi điện thư cám ơn Văn Bút Thụy Sĩ Pháp thoại và hoan nghênh bài viết vừa kể trên. Genève Đêm Giáng Sinh 24 tháng 12 năm 2011
    *************************************************************************************
    Viết lên sự thật cho những người ở sau song sắt của địa ngục

    Để tưởng nhớ Ngày các Nhà Văn bị Cầm tù, ngày 15 tháng 11 vừa qua, Ủy Ban Văn Bút Quốc Tế Bênh vực các Nhà văn bị đàn áp (CODEP) đã công bố một bản tổng kết đen tối. Người ta có thể nhìn thấy trong đó vài tia hy vọng đang lóe lên từ Tunisie, Ai-Cập và Miến Điện. Tuy nhiên, mùa xuân Á Rập dường như đang khiến cho các chế độ độc tài toàn trị, những chế độ thù ghét tự do trở nên hoảng sợ. Những chế độ đó đang tìm cách kiểm soát chặt chẽ hơn nữa các phương tiện truyền thông, nhất là mạng internet, giống như Trung Hoa, Việt Nam hoặc Ba Tư đã làm. Tất cả các con mắt săn mồi của những nhà nước vi phạm nhân quyền đều đang chằm chằm theo sát các nhà văn, nhà báo độc lập, các tác giả bút ký điện tử hoặc các nhà bất đồng chính kiến trên mạng.
    Trong mười hai tháng qua, nhiều vi phạm nghiêm trọng về tự do ngôn luận và quyền thông tin vẫn tiếp tục xảy ra và ở nhiều nơi chúng đều không bị trừng phạt. Ủy ban Bênh vực các Nhà văn bị đàn áp đã ghi nhận được gần 1000 cuộc tấn công các nhà văn và nhà báo. Để chống cự lại các thế lực độc tài, tha hóa hay các nhóm tội phạm võ trang, những người cầm bút đó chỉ biết dùng đến ngôn từ hay lời nói. Bị đe dọa rồi bị bắt giữ và tra tấn, nhiều người đã bị giam giữ bí mật trong nhiều tháng dài, thậm chí nhiều năm, mà không hề có tuyên bố buộc tội hay được xét xử. Đó là trường hợp của Dawit Isaac, nhà văn và nhà báo người Thụy Điển gốc Erythrée và những đồng nghiệp cùng là người Erythrée, đã bị bặt tin tức từ khi họ bị bắt tại Erythrée cách nay đã 10 năm. Còn nhiều người khác có thể đã qua đời vì tình trạng giam giữ tồi tệ, dinh dưỡng thiếu thốn hoặc không được chăm sóc y tế. Ở những nơi khác lại có hàng trăm người cầm bút đang phải chịu những án tù nặng nề sau song sắt.
    Thê thảm hơn nữa là tình trạng của khoảng ba chục người anh em, nam nữ đồng nghiệp của chúng tôi đã bị biến thành sự im lặng tuyệt đối bằng lối kiểm duyệt cực kỳ độc ác : bị ám sát một cách dã man hoặc bị làm cho mất tích. Tại Mễ Tây Cơ, từ năm 2006 tới nay đã có 8 nhà báo bị mất tích, 33 nhà báo, 1 nhà văn viết tiểu thuyết và 1 nhà thơ đã bị ám sát. Riêng năm 2011, đã có 9 nhà báo bị ám sát, và 2 nhà báo bị mất tích. Trong số những nạn nhân xấu số đó, có 4 phụ nữ kèm theo người thân của họ. Người ta đã tìm thấy thi thể không còn lành lặn của Susanna Chávez Castillo. Hay thi thể trần truồng của Ana Maria Marcela Yarce Viveros và Rocio González Trápaga, bị chết ngạt, với một sợi dây quấn quanh cổ, tay và chân bị trói lại. Còn Angel Castillo Corona, bị giết cùng với người con trai 16 tuổi. Văn Bút Quốc Tế đã có những cố gắng để công luận biết đến, chia sẻ với thảm trạng chua xót, đau đớn đến phẫn nộ này nhân dịp Ngày Lễ người Quá cố ở Mễ Tây Cơ, mùng 2 tháng 11 vừa qua.
    Năm nay, Ngày dành cho các Nhà văn bị Cầm tù đã tập trung sự chú ý vào những trường hợp tiêu biểu cho sự đàn áp không biên giới. Ví dụ: Tại Ethiopie, Reeyot Alemu, nữ ký giả viết thời luận, hiện đang bị giam giữ bí mật từ tháng Sáu năm 2011; tại Mễ Tây Cơ, Susana Chavez, nhà thơ nữ, đã bị ám sát vào tháng Mười Một năm 2011; ở Tây Tạng đang bị chiếm đóng, Tashi Rabten, nhà thơ, biên tập viên, bị kết án 4 năm tù giam hồi tháng Sáu năm 2011; tại Bahrein, Abdul-Jalil Al-Singace, tác giả bút ký điện tử và nhà hoạt động nhân quyền, bị tù chung thân từ tháng Sáu năm 2011; ở Thổ Nhĩ Kỳ, Nedim Sener và Ahmet Shik, những nhà báo điều tra nổi tiếng, đang bị tạm giam từ tháng Ba năm 2011; ở Trung Hoa, Lưu Hiểu Ba, khôi nguyên Nobel Hòa Bình 2010, đang chịu án 11 năm tù giam. Và đây nữa, tại Việt Nam, Linh mục Nguyễn Văn Lý, biên tập viên của tạp chí Tự Do Ngôn Luận (không được thừa nhận hợp pháp), đang thụ án 8 năm tù giam từ năm 2007, với cơ thể đang bị liệt nửa người phải và tiền liệt tuyến bị viêm với nguy cơ chuyển thành ung thư.
    Cũng cần phải nhắc lại rằng vào tháng Chín vừa qua, Đại hội của Văn Bút Quốc Tế ở Belgrade (Serbie) đã thông qua khoảng một chục Quyết nghị lên án sự đàn áp và đe dọa nhằm vào các nhà văn, nhà báo và những nhà hoạt động nhân quyền. Người ta có thể thấy các nạn nhân của sự đàn áp ở Bahrein, Belarussie, Trung Hoa, Tây Tạng đang bị chiếm đóng, ở Tân Cương của người Ngô Duy Nhĩ, Nội Mông, Cuba, Erythrée, Ba Tư, Irak, Mễ Tây Cơ, Nam Phi (đang soạn thảo một dự luật có những điều khoản đe dọa sự tự do của nhà văn, nhà báo), ở Syrie, Thổ Nhĩ Kỳ và Việt Nam.
    Vẫn tại Việt Nam, Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, nhà báo và tác giả bút ký điện tử, đồng sáng lập Câu lạc bộ Nhà báo Tự do Việt Nam (không được thừa nhận hợp pháp), thay vì được trả lại tự do sau một án tù bất công dài 2 năm rưỡi, vẫn đang bị giam giữ một cách bí mật từ tháng 10 năm 2010, không được gặp mặt gia đình, không được nhận thuốc men. Điếu Cày Nguyễn Văn Hải rất có thể đã bị mất một cánh tay trong thời gian bị giam theo như một tiết lộ vô tình từ một sĩ quan an ninh CS. Trong danh sách dài chưa được ghi chép hết của các nhà văn, nhà báo bị bức hại còn có Hòa thượng Thích Quảng Độ (83 tuổi), tu sĩ Phật giáo, nhà thơ, đang bị quản thúc tại gia từ năm 2003. Trong các trại giam và nhà tù vẫn còn các ông Nguyễn Phong, Nguyễn Bình Thành, Trần Quốc Hiền và Trương Quốc Huy, bà Phạm Thanh Nghiên, các ông Phạm Văn Trội, Nguyễn Mạnh Sơn, Trần Huỳnh Duy Thức (án 16 năm tù giam), Lê Thăng Long, Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, Trần Anh Kim, Vi Đức Hồi, Phạm Minh Hoàng, Lư Văn Bảy, Cù Huy Hà Vũ và Phan Thanh Hải (tác giả nhựt ký điện tử Anh Ba Sài Gòn). Đó chỉ là những trường hợp được biết tiếng nhiều nhất.
    Ở Việt Nam, những nhà thơ, nhà văn, nhà báo độc lập, luật sư hay người bênh vực nhân quyền nào bị cáo buộc vào tội ‘’tuyên truyền chống nhà nước xã hội chủ nghĩa’’ (hoặc chính xác hơn, là đảng cộng sản) đều có thể lãnh một bản án từ 3 đến 20 năm tù giam, theo điều 88 của bộ Luật Hình sự (điều luật còn được biết dưới một cái tên khác là ‘’luật còng số 8’’). Một khi bị kết án, họ sẽ bị đưa đến các trại lao động cưỡng bức. Họ bị giam kín hoặc bị nhốt chồng chất trong những phòng giam bẩn thỉu, cùng với các tù nhân đại hình có thái độ hiềm thù hung dữ khác. Họ sẽ phải chịu đựng tra tấn, nhục hình, đối xử dã man, vô nhân tính hoặc làm hạ thấp phẩm giá con người. Phần lớn những người tù chính trị hoặc tù nhân ngôn luận và lương tâm đều ở trong một tình trạng sức khỏe rất xấu, vì điều kiện giam giữ vô nhân đạo. Tháng Chín vừa rồi, người ta đã nhận được tin người tù Trương Văn Sương đã chết trong trại giam, do bệnh nặng, sau hơn 30 năm bị giam cầm. Hồi tháng Bảy, ông Nguyễn Văn Trại, một người tù lâm bệnh khác, đã không thể sống qua bản án 15 năm tù. Hay là ông Nguyễn Hữu Cầu, đã gần như trở nên mù lòa và điếc đặc, sau gần 30 năm sau song sắt với không một tia hi vọng nào có thể còn sống để về với gia đình, người thân – những người cũng đã mòn mỏi, kiệt sức vì đợi chờ.

    NGUYÊN HOÀNG BẢO VIỆT
    Thành viên Ủy Ban Bênh vực Nhà Văn bị Đàn áp
    và Cầm tù của Trung tâm Văn Bút Thụy Sĩ Pháp thoại
    và Trung tâm Nhà Văn Việt Nam Lưu Vong.
    HÀ TẢN VIÊN chuyển dịch ra tiếng Việt
    Genève ngày 15 tháng 11 năm 2011
    Liên Hội Nhân Quyền Việt Nam ở Thụy Sĩ
    Ligue vietnamienne des droits de l’homme en Suisse
    Vietnamese League for Human Rights in Switzerland

    Écrire pour la vérité, au-delà des portes de l’enfer

    En commémorant la Journée des Ecrivains Emprisonnés, le 15 novembre 2011, le Comité pour la défense des écrivains persécutés (CODEP) du PEN International a publié un sombre bilan. On constate avec espoir quelques bonnes nouvelles venant de Tunisie et d’Egypte ou de Birmanie. Toutefois, le printemps arabe aura fait peur à certains régimes totalitaires ou liberticides. Ces derniers cherchent à contrôler davantage les médias et surtout l’accès à l’internet, en suivant l’exemple de la Chine, du Vietnam ou de l’Iran. Et tous les Etats violeurs des droits de l’Homme fixent leur regard de prédateur sur les écrivains et journalistes indépendants, les blogueurs ou les cyberdissidents.

    Les graves atteintes à la liberté d’expression et d’information se sont poursuivies au cours de 12 derniers mois. En toute impunité dans de nombreux pays. Le Comité pour la Défense des Ecrivains Persécutés a enregistré presque mille attaques contre les écrivains et les journalistes. Pour résister aux pouvoirs dictatoriaux et corrompus ou aux groupes armés criminels, ils n’ont que la parole ou les mots.
    Menacés puis arrêtés et torturés, certains d’entre eux sont détenus au secret durant de longs mois, voire des années sans aucune inculpation ni jugement. C’était le sort de Dawit Isaac, écrivain et journaliste suédo-érythréen et de ses collègues érythréens dont on est sans nouvelles depuis leur arrestation en Erythrée, il y a une décennie. D’autres seraient déjà morts à cause des conditions de détention déplorables, de malnutrition et du manque de soins médicaux. Ailleurs, des centaines de gens de plume purgent de lourdes peines de prison.

    Pis, une trentaine de nos consœurs et confrères ont été réduits au silence absolu par l’ultime forme de censure : l’assassinat sauvage ou la disparition forcée. Au Mexique, depuis 2006, 8 journalistes ont disparu, 33 journalistes, un romancier et un poète ont été assassinés. En 2011, 9 journalistes ont été assassinés et 2 portés disparus. Parmi eux se trouvaient 4 femmes et des membres de leur famille. On a retrouvé le corps mutilé de Susanna Chávez Castillo. Ou bien, les corps nus d’Ana Maria Marcela Yarce Viveros et de Rocio González Trápaga, tués par asphyxie, une corde autour du cou, pieds et mains attachées. Ou encore, Angel Castillo Corona, tué avec son fils de 16 ans. PEN International a voulu sensibiliser l’opinion publique à cette tragédie douloureuse et révoltante à l’occasion du Jour des Morts au Mexique, le 2 novembre dernier.

    Pour la Journée des Ecrivains Emprisonnés, cette année, l’attention s’est portée sur plusieurs situations représentatives de la répression sans frontières. Par exemple: en Ethiopie, Reeyot Alemu, chroniqueuse, est en détention au secret depuis juin 2011; au Mexique, Susana Chavez, poète, a été assassinée en janvier 2011; au Tibet occupé, Tashi Rabten, poète et éditeur, condamné à 4 ans de prison en juin 2011; au Bahreïn, Abdul-Jalil Al-Singace, blogueur et défenseur des droits de l’Homme, à la prison à perpétuité en juin 2011; en Turquie, Nedim Sener et Ahmet Shik, journalistes d’investigation de renom, en détention préventive depuis mars 2011; en Chine, Liu Xiaobo, Prix Nobel de la Paix 2010, 11 ans de prison. Ou encore, au Viet Nam, Nguyen Van Ly, prêtre et rédacteur de la revue clandestine Liberté d’Opinion, 8 ans de prison en 2007, souffrant d’une paralysie partielle (côté droit) et d’une inflammation de la prostate qui pourrait être un cancer.
    Il convient de rappeler qu’en septembre dernier, le Congrès du PEN International à Belgrade, en Serbie, avait adopté une dizaine de résolutions condamnant la répression et les menaces à l’encontre des écrivains, journalistes et défenseurs des droits de l’Homme. Les victimes se trouvent au Bahreïn, en Biélorussie, en Chine, au Tibet occupé, au Xinjiang des Ouïgours et en Mongolie intérieure, à Cuba, en Erythrée, en Iran, en Irak, au Mexique, en Afrique du Sud (un projet de loi contient des dispositions qui menacent la liberté des écrivains et des journalistes), en Syrie, en Turquie et au Viet Nam.

    Toujours au Viet Nam, Dieu Cay Nguyen Van Hai, journaliste et blogueur, cofondateur du Club des Journalistes Libres du Viet Nam (illégal), au lieu d’être relâché au terme de sa peine injuste de 2 ans et demi de prison, a été détenu au secret depuis octobre 2010, sans accès à des visites familiales ou des fournitures médicales. Il aura perdu un bras en détention selon une récente révélation par inadvertance d’un officier de sécurité. Dans la liste non exhaustive des écrivains et journalistes persécutés se trouve le Vénérable Thich Quang Do (83 ans), moine bouddhiste et poète, en résidence surveillée depuis 2003. Dans les prisons ou les camps croupissent Nguyen Phong, Nguyen Binh Thanh, Tran Quoc Hien, Truong Quoc Huy, Pham Thanh Nghien (f), Pham Van Troi, Nguyen Manh Son, Tran Huynh Duy Thuc (16 ans de prison), Le Thang Long, Le Cong Dinh, Nguyen Tien Trung, Tran Anh Kim, Vi Duc Hoi, Pham Minh Hoang, Lu Van Bay, Cu Huy Ha Vu et Phan Thanh Hai (blogueur AnhBa SaiGon), pour ne citer que certains cas les plus connus.
    Au Viet Nam, accusés de ‘’propagande contre l’Etat socialiste’’ (ou plus exactement, le parti communiste), les poètes, écrivains, journalistes indépendants, avocats ou défenseurs des droits de l’Homme risquent des peines de prison de 3 à 20 ans, selon l’article 88 du Code pénal (article connu sous un sinistre nom ‘’doubles menottes’’). Une fois condamnés, ils seront déportés dans des camps de travaux forcés. Ils sont tenus au secret ou entassés dans des cellules insalubres qu’ils partagent avec des criminels hostiles. Ils sont l’objet d’attaques physiques, de tortures, de traitements cruels, inhumains ou dégradants. La plupart des prisonniers d’opinion et de conscience ou des prisonniers politiques sont en très mauvaise santé en raison des conditions de détention inhumaines. En septembre, on a appris la mort de Truong Van Suong gravement malade, après avoir déjà passé plus de 30 ans dans le camp. En juillet, Nguyen Van Trai, un autre prisonnier malade, n’a pas pu survivre à ses quinze ans de prison. Ou encore, Nguyen Huu Cau, presque aveugle et sourd, qui se rapproche de ses 30 ans derrière les barreaux, sans avoir aucune lueur d’espoir de retour en vie à sa famille épuisée par le poids insoutenable et la durée implacable des temps d’attente.
    NGUYÊN HOÀNG BẢO VIỆT
    Membre du Comité des Ecrivains en Prison
    du Centre PEN Suisse Romand
    et du Centre Associé des Ecrivains vietnamiens en exil (CEVEX)
    —————————————————————–

    Writing the Truth beyond the Gates of Hell

    To commemorate the Day of the Imprisoned Writers on November 15, 2011, the Writers in Prison Committee of PEN International published a sad record. Though some recent hope comes from Tunisia, Egypt or Burma and though the Arab spring may have sent a degree of fear to some totalitarian regimes, others try to control the media and, above all, access to Internet, following the example set by China, Vietnam or Iran. Meanwhile, all countries that violate Human Rights seem specially to target independent journalists, bloggers and cyber-dissidents.
    The past 12 months have seen the worst attempts to silence freedom of expression or information in all impunity in many lands. WIPC has recorded almost a thousand attacks on writers and journalists. Against dictators, corrupt governments, military or criminal groups, they fight only by written or spoken words. Threatened, arrested, tortured, some are detained in solitary confinement for months, even years, with neither charge nor trial. This was the fate of Dawit Isaac, a writer and journalist of Swedish-Eritrean nationality and his Eritrean colleagues from which we have no news since they were arrested in Eritrea, ten whole years ago. Others have died under miserable conditions of detention, undernourished and refused any medical care. In other countries, hundreds of writers serve lengthy prison terms.
    Worse yet, some thirty of our fellow men and women writers have been silenced forever by the ultimate form of censorship: Killed or “Disappeared”. In Mexico, since 2006, 8 journalists have disappeared; while 33 journalists, one novelist and one poet were murdered. In 2011, 9 journalists were killed and 2 more disappeared. Among them were 4 women and other members of their family. The mutilated body of Susanna Chavez Castillo was recently discovered. As were the naked bodies of Ana Maria Marcela Yarce Viveros and Rocio Gonzalez Trapaga, found dead from asphyxiation, rope tied around their necks, their hands and feet bound. Or also Angel Castillo Corona, killed along with his sixteen-year old son. On November 2d, Mexico’s Day of the Dead, PEN International brought these revolting tragedies to public attention.
    This year, the Day of Imprisoned Writers focused on several cases representative of repression without borders. As, in Ethiopia, Reeyot Alemu, a reporter, held in secret confinement since June 2011; in Mexico, the poet Susana Chavez, assassinated in January 2011; in occupied Tibet, Tashi Rabten, poet and publisher, condemned to 4 years in prison in June 2011; in Bahrein, Abdul-Jalil Al-Singace, blogger and defender of Human Rights sentenced to life imprisonment in June 2011; in Turkey, Nedim Sener and Ahmet Shik, renowned investigative journalists, in preventive detention since March 2011; in China, Liu Xiaobo, Nobel Peace Prize 2010, serving a prison term of 11 years. Or yet, in Viet Nam, Nguyen Van Ly, priest and editor of the underground magazine “Freedom of Opinion”, sentenced to 8 years in jail in 2007, who suffers from a partial paralysis of the right side and a prostate inflammation that might be caused by cancer.
    One should remember that, last September, the Congress of PEN International in Belgrade, Serbia, adopted ten resolutions condemning repression and threats against writers, journalists and Human Rights defenders. The victims are in Bahrein, Belarus, in China, in occupied Tibet, in Xinjiang as well as inner Mongolia, Cuba, Eritrea, Iran, Irak, Mexico, South Africa (where a planned bill contains terms that threaten the freedom of writers and journalists), Syria, Turkey and Viet Nam. Again in Viet Nam, Dieu Cay Nguyen Van Hai, journalist and blogger, co-founder of the (outlawed) Free Journalists Club of Viet Nam, instead of being released at the end of his unfair sentence of 2 years and a half in prison, has been detained in solitary since October 2010, with no right to receive family visits or medicine. It seems also that he lost an arm in jail according to the recent inadvertent disclosure of a security officer. On the endless list of persecuted writers and journalists remains the Venerable Thich Quang Do (83 years old), a Buddhist monk and poet, under house arrest since 2003. In Vietnamese prisons or camps stagnate Nguyen Phong, Nguyen Binh Thanh, Tran Quoc Hien, Truong Quoc Huy, Pham Thanh Nghien (f), Pham Van Troi, Nguyen Manh Son, Tran Huynh Duy Thuc (16 years of prison), Le Thang Long, Le Cong Dinh, Nguyen Tien Trung, Tran Anh Kim, Vi Duc Hoi, Pham Minh Hoang, Lu Van Bay, Cu Huy Ha Vu and Phan Thanh Hai (blogger AnhBa SaiGon), to only mention the best known cases.
    In Viet Nam, accused of ‘’propaganda against the socialist State’’ (or rather the communist party), poets, writers, freelance journalists, lawyers or Human Rights defenders risk from 3 to 20 years in prison, under article 88 of the Penal Code (an article best known under the sinister name of “double handcuffs’’). Once sentenced, they are deported to forced labour camps. They are held in solitary or piled into filthy cells shared with hostile common-law criminals. They are physically attacked, tortured, or subjected to cruel, inhuman or degrading treatment. Most of the prisoners of conscience or opinion or political prisoners are in bad health because of the inhuman detention conditions. In September, we learned of the death of Truong Van Suong, after a long illness, having spent over 30 years in his camp. In July, Nguyen Van Trai, another sick prisoner, did not survive 15 years of jail. Or again, Nguyen Huu Cau, deaf and almost blind, who soon will have spent 30 years behind bars with not the faintest hope to return alive to his family exhausted by the interminable and unbearable wait.
    NGUYÊN HOÀNG BẢO VIỆT,
    Member of the Writers in Prison Committee (WIPC/CODEP) of PEN Suisse Romand Centre
    and member of the Associated Vietnamese Writers in Exile Centre (CEVEX)

    Translated by MAVIS GUINARD, PEN Suisse Romand Centre (WIPC/CODEP).

  5. Lê Nguyên Hoàng Minh nói:

    ‘’Văn bút quốc tế (PEN International): Bù nhìn’’,
    nỗi ám ảnh của báo Công an cộng sản Việt Nam

    Nhắc lại, theo Bản tin LHNQVN ngày 15 tháng 12 năm 2011, một Quyết Nghị về Việt Nam đã được Hội Đồng Đại Biểu họp Đại Hội Thế Giới Văn Bút Quốc Tế ngày 16 tháng 9 năm 2011 tại Belgrade, thủ đô nước Serbie, đồng thanh phê chuẩn. Theo đề nghị của Ủy Ban Văn Bút Quốc Tế Bênh vực Nhà Văn bị Đàn áp và Cầm tù, bản Quyết Nghị do Trung tâm Văn Bút Thụy Sĩ Pháp thoại soạn thảo đã nhận được tất cả các Phiếu Thuận. Không một Phiếu Trắng, không một Phiếu Chống (* xem danh sách các Trung tâm Văn Bút Quốc Tế tham dự phiên họp của Hội Đồng Đại Biểu).
    Ban biên tập LHNQVN đã nhận định tiếp rằng : Qua bản Quyết Nghị về Việt Nam, Văn Bút Quốc Tế nghiêm khắc tố cáo Cộng Sản Việt Nam đàn áp tàn bạo những người cầm bút đối kháng độc tài và bênh vực Nhân Quyền. Tự do phát biểu và thể hiện quan điểm là một trong những quyền căn bản hàng đầu. Văn Bút Quốc Tế không phải là ‘’bù nhìn’’ như báo Công an cộng sản ở Sài-Gòn-bị-chiếm-đóng đã vu cáo một cách trơ trẽn. Thật vậy, trong số báo Công an ra ngày 29 tháng 3 năm 2011, ký giả Công an cộng sản Hà Trình đã hằn học viết một bài với tựa đề ‘’Văn bút quốc tế (PEN International): Bù nhìn’’. Vào lúc ấy, nhà thơ Nguyên Hoàng Bảo Việt, Phó chủ tịch Trung tâm Văn Bút Thụy Sĩ Pháp thoại và quan sát viên của Văn Bút Quốc Tế tại các Khóa Họp của Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc (Genève), đang tham dự Hội Nghị lưỡng niên của Ủy Ban Văn Bút Quốc Tế Bênh vực Nhà Văn bị đàn áp và cầm tù tại Bruxelles, thủ đô Vương quốc Bỉ. Qua cuộc điện đàm, nhà thơ Nguyên Hoàng Bảo Việt nói với chúng tôi rằng’’đối với một bài viết như thế, chúng ta không cần phải mất thì giờ bình phẩm nữa’’.
    Đây không phải là lần đầu mà cơ quan truyền thông Công An cộng sản (từ Hà Nội đến Sài-Gòn-bị-chiếm-đóng) cho đăng những bài viết đầy ác ý xuyên tạc và vu khống đối với Văn Bút Quốc Tế và nhà thơ Nguyên Hoàng Bảo Việt (không phải Nguyễn Hoàng Bảo Việt như Công an cộng sản đã nhiều lần viết sai).
    Chín tháng đã trôi qua từ khi chúng tôi nhận được bài báo nói trên của Công an cộng sản do anh em sinh viên ở Hà Nội gởi cho. Sắp hết năm, chúng tôi tính sổ hoạt động, thu dọn cơ sở để chuẩn bị đón năm mới 2012. Vì vậy, chúng tôi có ý định nhờ quý bạn đọc và quý diễn đàn giúp gởi trả lại cho tòa báo Công an cộng sản bài viết của ông Hà Trình.
    Trước khi cho đăng toàn văn bài ‘’Văn bút quốc tế (PEN International) : Bù nhìn’’ của nhà báo Công an cộng sản, chúng tôi muốn ghi ra mấy điểm cần được minh xác như sau :
    - Được giao cho nhiệm vụ viết bài ‘’công kích’’ Văn Bút Quốc Tế sau mỗi kỳ Đại Hội Thế Giới, ông Hà Trình thường dùng những chữ ‘’đội lốt nhà văn, nhà thơ”, ‘’thọc gậy bánh xe’’, ‘’thông tin đơm đặt, xuyên tạc’’, ‘’trắng trợn vu khống’’,‘’lừa gạt’’, ‘’hành vi bỉ ổi’’, ‘’bóp méo sự thật’’,‘’mưu đồ chính trị đen tối’’, v.v. Những chữ đó không hề có trong ngữ vựng Văn Bút Quốc Tế. Nếu có chăng là dưới những chế độ độc tài quen thói đẻo gọt lưỡi gỗ, bẻ cong ngòi bút, áp đặt lên cán bộ cấp thừa hành mệnh lệnh tuyệt đối của đảng cầm quyền, chủ trương thủ tiêu hoặc hạn chế những quyền tự do phát biểu và diễn đạt quan điểm, quyền tự do báo chí, sáng tác và xuất bản. CHXHCNVN là một thí dụ điễn hình nổi bật nhứt.
    - Ủy Ban Văn Bút Quốc Tế Bênh Vực Nhà Văn bị Đàn áp và Cầm tù (WIPC/CODEP) chỉ phổ biến những tin tức, tài liệu khi nào được phối kiểm chính xác với ít nhứt hai hoặc ba nguồn tin khác nhau, trong đó có nguồn tin của một tổ chức quốc tế phi chính phủ tranh đấu cho Nhân Quyền hoặc một nguồn tin ngoại giao từ một Nhà Nước Dân Chủ.
    - Theo sự hiểu biết của chúng tôi thì nhà thơ Nguyên Hoàng Bảo Việt là cựu hội viên Trung tâm Âu Châu Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại. Thuyền nhân tị nạn cộng sản, thi hữu là một nhà thơ Việt Nam lưu vong độc lập. Ông chưa bao giờ đại diện cho Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại tham dự các kỳ Đại Hội Thế Giới Văn Bút Quốc Tế dù ông có góp phần vào công cuộc phục hoạt hội này. Không có người cầm đầu một đảng phái chính trị hoặc tổ chức văn hóa hay tôn giáo nào là kẻ chủ mưu đứng đằng sau giật dây nhà thơ lưu vong độc lập. Chúng tôi cũng đồng quan điểm với ông : Chống độc tài cộng sản, bênh vực Nhân Quyền, một nhà văn, một nhà thơ, một nhà báo hay một vị tu sĩ độc lập có đủ tư cách và chính danh để hành động mà không cần mang chứng minh thư của một đảng phái chính trị dù tổ chức đó có đeo nhãn hiệu ‘’chống cộng’’ thật, ‘’tranh đấu cho tự do dân chủ’’ thật. Cũng như đồng bào Việt Nam, chúng ta và cả các văn hữu thế giới kinh tởm khi nghe chuyện Công an cộng sản đào tạo cán bộ trở thành mục sư, linh mục hoặc nhà sư ‘’quốc doanh’’ hành nghề có thẻ đảng. Từ thập niên 80 đến nay, nhà thơ Nguyên Hoàng Bảo Việt chỉ là hội viên Văn Bút Thụy Sĩ Pháp thoại trước khi được bầu vào Ban Chấp hành Trung tâm này. Ông giữ chức vụ Phó chủ tịch chuyên trách Ủy Ban Bênh Vực Nhà Văn bị Đàn áp và Cầm tù. Những hoạt động thuần túy tự nguyện và bất vụ lợi của ông nhằm để ủng hộ các văn thi hữu bất hạnh ở Việt Nam và cả các nước khác nữa. Thi hữu từng là đại biểu của Trung tâm Văn Bút Thụy Sĩ Pháp thoại (Centre PEN Suisse Romand) tại nhiều Đại Hội Thế Giới Văn Bút Quốc Tế và Hội Nghị Ủy Ban Văn Bút Quốc Tế Bênh Vực Nhà Văn bị Đàn áp và Cầm tù (WIPC/CODEP). Tại Hội Nghị WIPC/CODEP Katmandou, thủ đô Népal, đầu năm 2000 (được UNESCO bảo trợ), ông là đại biểu duy nhứt đến từ nhóm các Trung tâm Văn Bút Pháp thoại (Pháp, Québec, Bỉ Pháp Thoại, Arménie, Roumanie, Sénégal, Algérie, Thụy Sĩ Pháp thoại, v.v.). Ông là thành viên đồng sáng lập Trung tâm Nhà Văn Việt Nam Lưu Vong (độc lập đối với Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, một trong 145 Trung tâm Văn Bút Quốc Tế). Ngoài ra, thi hữu còn là hội viên của Hội Nhà Văn Liên Hiệp Quốc Genève.

    Chúng tôi tin tưởng rằng dưới chế độ độc tài cộng sản vẫn có những người cầm bút chân chính, còn lương tâm và lòng yêu nước thương đồng bào, dù họ ở ngoài hay ở trong cái gọi là ‘’Hội Nhà Văn Việt Nam’’ hay ‘’Hội Nhà Báo Việt Nam’’ (do ĐCSVN chỉ đạo và nuôi dưỡng). Sớm muộn gì, họ cũng sẽ công khai đối nghịch với bạo lực phi nhân, băng đảng mafia phồn vinh trên những bất công xã hội, suy đồi văn hóa. Họ sẽ tố cáo và lên án những kẻ cầm quyền đồng lõa với ngoại bang xâm lược, để mất một phần máu thịt của đất nước. Những con người liêm sĩ hiếm có đó, bao gồm các nhà văn, nhà thơ, nhà báo, tác giả bút ký điện tử, nhà luật học, các tu sĩ mọi tôn giáo, sẽ không chấp nhận việc cán bộ Công an cộng sản tiếp tục lạm quyền, lên tiếng, viết thay cho họ. Viết và lên tiếng như ông Hà Trình để vu cáo nhục mạ Văn Bút Quốc Tế và một nhà thơ Việt Nam lưu vong độc lập. Nhà thơ đó, dưới ngòi bút của ký giả báo Công an cộng sản là ‘’kẻ đội lốt nhà văn nhà thơ’’, có nhiều thơ đăng trên Tạp chí PEN International Magazine của Hiệp Hội các Nhà Văn Thế Giới, Tạp chí Ex Tempore của Hội Nhà Văn Liên Hiệp Quốc Genève (tiếng Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Nga, Á Rập, Trung Hoa và Việt Nam), Tuyển tập Twentieth-Century French Poetry (Critical Anthology) Thi Ca Pháp – Thế Kỷ Hai Mươi (Phê bình văn học) của Nhà Xuất bản Đại học Anh/Cambridge University Press. Hồi tháng 9 mới đây, tại Đại Hội Thế giới Văn Bút Quốc Tế Belgrade (nước Serbie), nhà thơ Việt Nam lưu vong độc lập này đã được mời đọc thơ trong chương trình Lễ Hội Văn Chương Thế Giới ‘’Trả Tự Do cho Ngôn Ngữ’’. Giống như thi hữu đã từng đọc thơ tại các Đại Hội Văn Bút Quốc Tế ở Prague (Tiệp), Varsovie (Ba Lan), Ohrid (Macédoine), Bled (Slovénie), Moscou (Nga), Vienne (Áo), Tokyo (Nhựt) và ở Katmandou (Népal).

    Kết thúc Bản tin này, chúng tôi kính chuyển đến quý bạn đọc và quý diễn đàn trong nước và hải ngoại, toàn văn bài báo ‘’Văn bút quốc tế (PEN International) : Bù nhìn’’ của nhà báo Công an cộng sản Hà Trình.
    Genève ngày 25 tháng 12 năm 2011
    Liên Hội Nhân Quyền Việt Nam ở Thụy Sĩ
    Ligue Vietnamienne des Droits de l’Homme en Suisse
    Vietnamese League or Human Rights in Switzerland.
    —————————————————————————————————————-
    Bài của Hà Trình đăng trên báo Công an Sài-Gòn-bị-chiếm-đóng
    Văn bút quốc tế (PEN International): Bù nhìn Thứ ba, 29/03/2011 06:38
    (CATP) Văn bút quốc tế, hay còn gọi Hội Nhà văn thế giới, tên tiếng Anh: PEN International (viết tắt PEN), là tổ chức phi chính phủ của diễn đàn văn học quốc tế, ra đời đến nay đã tròn 90 năm. Lẽ thường, văn chương là chốn thanh cao, hướng thiện, nơi người ta phải lao lực để sáng tạo. Nhưng gần đây, mỗi khi khai hội văn chương, PEN đã trở thành bù nhìn, để những kẻ đội lốt “nhà văn, nhà thơ” trong “Văn bút Việt Nam hải ngoại” mượn diễn đàn thực hiện những mưu đồ đen tối chống Việt Nam.

    Logo của PEN

    NHỮNG “QUYẾT NGHỊ” SAI TRÁI
    Từ cuối năm 2010 đến nay, PEN đã tung ra nhiều “quyết nghị”, “thông cáo”, “kháng nghị”… dựng chuyện bịa đặt: “Việt Nam cầm tù nhiều nhà văn” và không ngớt kêu đòi trả tự do cho họ. Theo danh sách “nhà văn Việt Nam bị cầm tù” do PEN công bố, vẫn là can phạm Trần Khải Thanh Thủy, Nguyễn Xuân Nghĩa, Nguyễn Văn Hải (“Điếu cày”), Trương Minh Đức…, vốn được đám phản động ở hải ngoại giật dây, hậu thuẫn chống chế độ đã nhiều năm. Nực cười nhất, bản danh sách của PEN còn có các ông Nguyễn Văn Lý, Thích Quảng Độ – vốn chẳng dính líu gì đến văn chương và chẳng bao giờ là “nhà văn”.
    Trước đó, ngày 1-10-2010, Đại hội PEN lần thứ 76 ở thủ đô Tokyo, Nhật Bản, có khoảng 250 nhà văn đến từ hơn 90 quốc gia trên thế giới tham dự. Trong đó có đại diện ba trung tâm văn bút là: Nguyễn Hoàng Bảo Việt (Văn bút Thụy Sỹ Pháp thoại), Vũ Quang Trân (Văn bút San Miguel de Allende), Nguyễn Đăng Tuấn, Yên Sơn, Đào Vĩnh Tuấn (Văn bút Việt Nam hải ngoại) dự đại hội này. Đáng kể là Nguyễn Hoàng Bảo Việt – một kẻ đội lốt “nhà thơ” – chuyên gia “thọc gậy bánh xe” đã đưa nhiều thông tin đơm đặt, xuyên tạc “Việt Nam đàn áp nhà văn” để phá hoại mục tiêu hướng thiện của PEN tại những kỳ đại hội gần đây. Trên diễn đàn đại hội, gã này trắng trợn vu khống: “Những nhà văn – tù nhân ngôn luận và lương tâm ở Việt Nam đã bị đánh đập, tra tấn hoặc phải chịu những cách đối xử độc ác, vô nhân đạo hoặc hạ phẩm giá”. Người ta chú ý quan sát thì thấy, Nguyễn Hoàng Bảo Việt chỉ là tên trực tiếp có hành vi bỉ ổi, còn chủ mưu đứng đằng sau giật dây chính là những kẻ cầm đầu “Văn bút Việt Nam hải ngoại”. Nhưng tiếc thay, những người lãnh đạo của PEN và các nhà văn tham dự đại hội vì thiếu thông tin về tình hình Việt Nam hoặc đã không tìm hiểu về văn học Việt Nam mà tiếp tục bị Nguyễn Hoàng Bảo Việt lừa gạt nên đã thông qua cái gọi “Quyết nghị”, trong đó xuyên tạc Việt Nam “tiếp tục duy trì thảm cảnh tù đày các nhà cầm bút và trí thức độc lập…”. Đây là “Quyết nghị” thứ 10 mà PEN thông qua, vu khống Việt Nam. Như vậy là, PEN lại thêm dễ dàng trở thành bù nhìn cho những kẻ đội lốt “nhà văn, nhà thơ” trong “Văn bút Việt Nam hải ngoại” mượn bàn tay nhằm thực hiện những mưu đồ chính trị đen tối chống Việt Nam suốt thời gian dài. Thật chua xót thay!

    Nguyễn Hoàng Bảo Việt
    TRỞ VỀ VỚI TÔN CHỈ, MỤC TIÊU HƯỚNG THIỆN!

    Trải qua chặng đường 90 năm tồn tại và phát triển, PEN thực sự đã tạo dựng được uy tín trên diễn đàn văn học quốc tế. Nhiều nhà văn có uy tín và tên tuổi trên văn đàn thế giới đã vinh dự kế thừa nhau, được bầu đảm nhiệm cương vị chèo lái con thuyền của PEN theo đuổi mục tiêu đầy tính nhân văn mà những người sáng lập PEN đề ra. Vị chủ tịch đầu tiên của PEN, nhà văn John Galsworthy (người Anh) từng được trao giải Nobel về văn chương vào năm 1932. Nhà văn gốc Ấn Độ Salman Rushdie, SN 1947 tại Bombay (Ấn Độ), từng giữ chức Chủ tịch của PEN trong hai, ba nhiệm kỳ, có sự nghiệp văn chương đồ sộ. Hay bà Margarter Atwood (SN 1939) từng là Chủ tịch của PEN, đã được đề cử trao giải thưởng Nobel Văn học năm 2005. Nói một chút về những người từng vinh dự được giữ chức vụ cao nhất của PEN qua các thời kỳ để hiểu những đóng góp của họ trong việc làm nên uy tín của PEN. Thế nhưng, nghịch lý là những nhà lãnh đạo của PEN giỏi giang trong hoạt động văn học bao nhiêu, thì với vai trò là người cầm lái con thuyền PEN lại tỏ ra bất lực bấy nhiêu. Thật buồn là họ đã trở thành bù nhìn cho những kẻ đội lốt nhà văn, nhà thơ của “Văn bút Việt Nam hải ngoại” lợi dụng văn chương như những công cụ tuyên truyền chống lại chính Tổ quốc mình, nơi đã sinh ra họ.
    Tệ hại, PEN đã không tỉnh táo nhìn nhận rõ vấn đề, mà lại thường xuyên hậu thuẫn cho những người như Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Tiến Trung… núp dưới chiêu bài “đấu tranh cho tự do ngôn luận” để chống chính quyền ở Việt Nam. Trong nhiều năm qua, PEN đã thảy lên các phương tiện truyền thông phương Tây nhiều “thông cáo”, “quyết nghị” hoặc “kháng thư” cổ xúy cho những phần tử cực đoan này. Đặc biệt, vào những khi số phần tử này bị cơ quan bảo vệ pháp luật bắt giữ, PEN thường bóp méo sự thật, đòi trả tự do cho họ một cách đầy lố bịch.
    Thiết nghĩ, đã đến lúc, vì danh dự, uy tín của mình, PEN hãy tìm hiểu kỹ lịch sử đất nước, con người và nền văn học Việt Nam. Một đất nước mấy nghìn năm văn hiến, có truyền thống hào hùng dựng nước và giữ nước; một đất nước biểu tượng của lòng nhân ái, vị tha… thì không thể có chuyện “cầm tù nhà văn”! Xin hãy tỉnh táo đừng để là bù nhìn cho những kẻ đội lốt nhà văn, nhà thơ trong “Văn bút Việt Nam hải ngoại” lợi dụng vu cáo Việt Nam. Ở Việt Nam, không có ai là “nhà văn bị cầm tù”. Đó là thực tế!

  6. Lê Nguyên Hoàng Minh nói:

    QUYẾT NGHỊ VỀ VIỆT NAM của ĐẠI HỘI THẾ GIỚI VĂN BÚT QUỐC TẾ HỌP TẠI BELGRADE NƯỚC SERBIE . Bản tiếng Pháp – tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha
    Résolution sur le Viet Nam soumise par le Centre PEN Suisse Romand et appuyée par le Centre PEN Suisse Allemand et le Centre PEN Suisse Italien et Rhétoromanche.

    Assemblée des Délégués de PEN International, réunie à son 77e Congrès Mondial à Belgrade, Serbie, du 12 Septembre au 18 Septembre 2011

    Profondément troublée par les violations du droit à la liberté d’expression et d’opinion qui continuent à se produire au Viet Nam. La presse écrite, les médias audiovisuels, internet et les maisons d’édition sont sous strict contrôle de l’Etat et soumis à une censure sévère. Il y a une restriction arbitraire à la liberté de chercher, de recevoir et de transmettre des informations, notamment celles relatives à la responsabilité des violations des droits de l’homme, à la corruption et à l’injustice sociale.

    S’inquiète sérieusement de la persécution des écrivains, journalistes, blogueurs dissidents et défenseurs des droits de l’homme qui ont été sanctionnés notamment par l’article 88 du Code pénal (propagande contre la République socialiste du Viêt Nam) prévoyant des peines de prison de 3 à 20 ans, en violation de l’Article 19 du PIDCP.

    Perturbée par le fait que la plupart des détenus passent plusieurs mois en détention préventive au cours de laquelle, ils n’ont pas le droit d’être présumé innocent et se voient refuser l’accès à leurs avocats indépendants qui sont soumis à des menaces et des harcèlements. Ils sont diffamés par les médias officiels. Leur droit à un procès équitable et public et à des juges indépendants n’est pas garanti.

    Choquée et indignée par le fait que de nombreux écrivains, journalistes, blogueurs et défenseurs des droits humains purgent de lourdes peines de prison dans des camps de travail forcé. Ils n’y sont pas protégés contre les agressions des prisonniers de droit commun et sont privés de leur droit de recevoir un traitement médical adéquat et de visites de famille. Certains sont détenus au secret ou à l’isolement. Plusieurs anciens écrivains en prison, auteurs et blogueurs ont été attaqués ou soumis à une brève détention, entre autres : Lê Thi Công Nhân (f), Pham Hông Son, Lê Quôc Quân, Bui Chat (Prix de la Liberté de Publier UIE 2011), Bui Thanh Hiêu, blogueur Nguoi Buôn Gio, Nguyên Ngoc Nhu Quynh (f), blogueuse Me Nâm, Ta Phong Tân (f), blogueuse Công Ly Su Thât.

    Déplore que la libération de l’écrivaine Trân Khai Thanh Thuy a été conditionnée par son exil forcé, après avoir purgé 18 sur 42 mois de sa peine de prison.

    Alarmée par l’état de santé et les conditions de détention des prisonniers suivants, parmi tant d’autres: Nguyên Van Ly, prêtre et rédacteur de la revue clandestine Tu Do Ngôn Luân (Liberté d’Opinion), 8 ans de prison et 5 ans de détention probatoire; Nguyên Xuân Nghia, poète et romancier, membre de l’Association des Ecrivains de Hai Phong et du réseau interdit des défenseurs des droits de l’Homme (Bloc 8406), co-rédacteur du journal clandestin Tô Quôc (Patrie), 6 ans de prison et 3 ans de détention probatoire; et Truong Minh Duc, journaliste et cyberdissident, 5 ans de prison et de 3 ans de détention probatoire.

    Préoccupée en outre par les cas suivants: Nguyên Phong, Nguyên Binh Thanh, Trân Quôc Hiên, Truong Quôc Huy, Pham Ba Hai, Pham Thanh Nghiên (f), Pham Van Trôi, Nguyên Manh Son, Trân Huynh Duy Thuc (16 ans de prison), Lê Thang Long, Lê Công Dinh, Nguyên Tiên Trung, Trân Anh Kim, Vi Duc Hôi, Pham Minh Hoang, Lu Van Bay et Cu Huy Hà Vu qui purgent actuellement leur peine de prison injuste; ou encore, Dang Phuc Tuê (Ven. Thich Quang Dô), 83 ans, moine bouddhiste et poète, en résidence surveillée depuis 2003, Nguyên Van Hai (blogueur Diêu Cày), journaliste, maintenu en prison au lieu d’être relâché depuis octobre 2010, après avoir purgé sa peine de 2 ans et demi de prison, Phan Thanh Hai (blogueur AnhBa SaiGon), avocat et journaliste, arrêté en octobre 2010, Nguyên Kim Nhan, ancien écrivain en prison, arrêté de nouveau en juin 2011.

    Exhorte instamment la République Socialiste du Viet Nam à :
    - Relâcher, immédiatement et sans conditions, les écrivains, journalistes, blogueurs et défenseurs des droits humains susmentionnés, ainsi que toutes les autres personnes actuellement en prison ou en détention probatoire pour avoir exercé leur droit à la liberté d’expression et d’opinion;
    - Cesser toutes les attaques, les harcèlements, les menaces d’arrestations arbitraires ou de mise en détention préventive à l’encontre de tous ceux qui professent des vues dissidentes ou qui demandent la liberté de pensée, de conscience et de religion;
    - Lever toutes les restrictions arbitraires imposées sur d’anciens prisonniers d’opinion, y compris ceux qui n’ont pas encore fini de purger leur détention probatoire;
    - Améliorer les conditions dans les prisons et les camps de travail forcé, stopper les actes d’agression perpétrés par des détenus de droit commun, interdire et punir toute forme de torture et de mauvais traitement, autoriser les prisonniers d’opinion qui sont malades à être hospitalisés et à recevoir des soins médicaux adéquats et faciliter les visites de leur famille;
    - Abolir toute censure et lever toutes les restrictions sur la liberté d’expression et d’opinion, la liberté de la presse, la liberté de créer et de publier, le droit à être informé par n’importe quel moyen, notamment l’Internet, et la liberté d’association, conformément aux Articles 19, 21 et 22 du Pacte International sur les Droits Civils et Politiques (PIDCP).

    Annexe: Etat de santé et conditions de détention des écrivains en prison, parmi tant d’autres
    - Nguyên Van Ly, prêtre et rédacteur de la revue clandestine Tu Do Ngôn Luân (Liberté d’Opinion). Il a été condamné en 2007 à 8 ans de prison et 5 ans de détention probatoire. Il avait déjà purgé 15 ans de prison entre 1977 et 2055. En novembre 2009, une hémorragie méningée l’a paralysé du côté droit. Craignant qu’il ne succombe à une autre hémorragie méningée, la Sécurité Publique l’a transféré à la ville de Huê en mars 2010. Il a été placé pour 12 mois sous contrôle de la police, afin de recevoir des soins avant de retourner au camp; Le 25 juillet 2011, une ambulance de la police l’a ramené au camp pour purger le reste de sa peine jusqu’en 2015. Il souffre encore d’une paralysie partielle et d’une inflammation de la prostate qui pourrait être un cancer.
    - Nguyên Xuân Nghia, poète et romancier, membre de l’Association des Ecrivains à Hai Phong et du réseau interdit des défenseurs des droits de l’Homme (Bloc 8406), co-rédacteur du journal clandestin Tô Quôc (Patrie), auteur de plusieurs poèmes, nouvelles, notes, mémoires et articles. Il a été condamné en 2009 à 6 ans de prison et 3 ans de détention probatoire. Il souffre d’hémorroïdes, d’ulcères à l’estomac, de calculs rénaux et de rhumatismes;
    - Truong Minh Duc, journaliste et cyberdissident. Il a été condamné en 2008 à 5 ans de prison et de 3 ans de détention probatoire pour ses nombreux articles sur la corruption et l’abus de pouvoir. Il s’est cassé le bras gauche en prison. Il est enfermé avec 60 criminels dangereux et récidivistes dans un camp au milieu de la jungle. Les visites de famille et la fourniture limitée de vivres et de médicaments (1 colis de 7 kg à chaque visite mensuelle) deviennent difficiles et onéreuses. Il souffre d’hypertension et de troubles gastro-intestinaux.
    - Nguyên Van Hai (plus connu sous son nom de blogueur Diêu Cày), journaliste indépendant et blogueur, qui aurait dû être libéré le 20 octobre 2010 après avoir purgé sa peine de deux ans et demi de prison. Toutefois, le 18 octobre 2010, il aurait été transféré dans un camp de détention de sécurité publique de la ville de Ho Chi Minh, apparemment sur des accusations en vertu de l’article 88 du code pénal. Les accusations reposeraient sur ses écrits en ligne pour le Réseau des Journalistes Libres du Vietnam, publiés avant son arrestation en 2008. Il est depuis détenu au secret, et privé de tout contact avec sa famille, et il n’a pas le droit de recevoir des lettres, des médicaments ou des vivres depuis le 18 octobre 2010. Selon des informations récentes non confirmées, il aurait perdu un bras en captivité. Son bien-être fait l’objet de vives préoccupations.
    —————————————————————————————————————————-
    Resolution on Viet Nam submitted by Suisse Romand PEN Centre and seconded by Swiss German PEN Centre and Swiss Italian and Reto-Romansh PEN Centre.

    The Assembly of Delegates of PEN International, meeting at its 77th World Congress in Belgrade, Serbia, 12 September to 18 September 2011

    Deeply disturbed that violations of the right to freedom of expression and opinion continue to occur in Viet Nam. Print and audiovisual media, Internet and publishing houses are under strict State control and subject to severe censorship. There is arbitrary restriction on freedom to seek, receive and impart information, in particular relating to accountability for human rights violations, corruption and social injustice.

    Seriously concerned by the persecution of writers, journalists, bloggers dissidents and human rights defenders, who have been sanctioned notably by article 88 of the Penal Code (Propaganda against the Socialist Republic of Viet Nam) carrying penalties of 3 to 20 years in prison, in violation of Article 19 of the ICCPR.

    Troubled by the fact that most detainees spend several months in pre-trial detention during which, they have no right to be presumed innocent and are denied access to their independent lawyers who are subject to threats and harassment. They are defamed by official media. Their right to a fair and public trial by independent judges is not guaranteed.

    Shocked and indignant by the fact that many writers, journalists, bloggers and human rights defenders serve heavy prison sentences in forced labour camps, where they are not protected from attacks by common law prisoners and are denied their right to receive adequate medical treatment and family visits. Some are held incommunicado or in solitary confinement. Several former writers in prison, authors and bloggers have been attacked or subjected to brief detention, among others: Lê Thi Công Nhân (f), Pham Hông Son, Lê Quôc Quân, Bui Chat (2011 IPA Freedom to Publish Prize), Bui Thanh Hiêu, blogger Nguoi Buôn Gio, Nguyên Ngoc Nhu Quynh (f) , blogger Me Nâm, Ta Phong Tân (f), blogger Công Ly Su Thât.

    Deplores that writer Trân Khai Thanh Thuy’s release in June 2011 was conditional on her forced exile, after serving 18 months of her 42-month prison sentence.

    Alarmed by the state of health and the detention conditions of the following prisoners, among others : Nguyen Van Ly, priest and editor of the underground review Tu Do Ngôn Luân (Freedom of Opinion), (8 years in prison and 5 years in probationary detention); Nguyên Xuân Nghia, poet and novelist, member of the Hai Phong Association of writers and the banned human rights defenders network (Bloc 8406), co-editor of the underground journal To Quoc (6 years in prison and 3 years in probationary detention); Truong Minh Duc, journalist and cyberdissident (5 years in prison and 3 years in probationary detention).
    Further concerned with the following cases: Nguyên Phong, Nguyên Binh Thanh, Trân Quôc Hiên, Truong Quôc Huy, Pham Ba Hai, Pham Thanh Nghiên, Pham Van Trôi, Nguyên Manh Son, Trân Huynh Duy Thuc (16 years in prison), Lê Thang Long, Lê Công Dinh, Nguyên Tiên Trung, Trân Anh Kim, Vi Duc Hôi, Pham Minh Hoang, Lu Van Bay and Cu Huy Hà Vu currently serving their unjust prison sentence; still yet, Dang Phuc Tuê (Ven. Thich Quang Dô), 83-year-old, Buddhist monk and poet, in house arrest since 2003, Nguyên Van Hai (blogger Diêu Cày), journalist, maintained in prison instead of being released since October 2010 after serving a prison term of 2 and half years, Phan Thanh Hai (blogger AnhBa SaiGon), lawyer and journalist, arrested in October 2010, Nguyên Kim Nhan, former writer in prison, re-arrested in June 2011.

    Strongly urges the Socialist Republic of Viet Nam to:
    - Release, immediately and unconditionally, the above-mentioned writers, journalists, bloggers and human rights defenders, and all other persons currently in prison or in probationary detention for having exercised their right to freedom of expression and opinion.
    - Cease all attacks, harassment, threat of arbitrary arrest or preventive detention against all persons who hold dissenting views or who call for freedom of thought, conscience, religion and belief.
    - Lift all arbitrary restrictions imposed on former writers in prison, including those who have not yet served their entire probationary detention terms.
    - Improve conditions in prisons and in forced labour camps, stop acts of aggression perpetrated by common law detainees, ban and punish all forms of torture and ill-treatments, allow sick prisoners of opinion to be hospitalized and receive adequate medical care as well as facilitate their family visits.
    - Abolish all censorship and lift all restrictions on freedom of expression and opinion, freedom of the press, freedom to create and to publish, the right to be informed by all means including the Internet, and freedom of association, in compliance with the Articles 19, 21 and 22 of the International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR).

    Annex: State of health and the detention conditions of the writers in prison, among others

    - Nguyên Van Ly, priest and editor of the underground review Tu Do Ngôn Luân (Freedom of Opinion). He was sentenced in 2007 to 8 years in prison and 5 years in probationary detention. He previously served 15 years in prison between 1977 and 2005. In November 2009, a stroke paralyzed the right side of his body. Fearing that he would die of other strokes, the Public Security transferred him to Huê city in March 2010. He was placed under police surveillance for 12 months in order to seek medical treatment before his return to the camp. On 25 July 2011, a police ambulance brought him back to the camp to serve the rest of his prison sentence until 2015. He still suffers from partial paralysis and an inflamed prostate that may be cancerous;

    - Nguyên Xuân Nghia, poet and novelist, member of the Hai Phong Association of writers and the banned human rights defenders network (Bloc 8406), co-editor of the underground journal Tô Quôc (Fatherland), author of several poems, short stories, notes, memoirs and articles. He was sentenced in 2009 to 6 years in prison and 3 years in probationary detention. He is suffering from haemorrhoids, stomach ulcers, renal calculus and rheumatic inflammations;

    - Truong Minh Duc, journalist and cyberdissident. He was sentenced in 2008 to 5 years in prison and 3 years in probationary detention for his numerous articles about corruption and abuse of power. He broke his left arm in prison. He is confined together with 60 high recidivist criminals in a camp deep in the jungle. Already limited, access to his family’s visits and supply of food and medicines (a 7 kg pack per monthly visit) became more difficult and costly. He is suffering from high blood pressure and gastrointestinal diseases;

    - Nguyên Van Hai (blogs as Diêu Cày), independent journalist and blogger, who should have been released on 20 October 2010 on completion of a two-and-a-half year sentence. However, on 18 October 2010 he was reportedly transferred to a Public Security detention camp in Ho Chi Minh City, apparently on charges under article 88 of the Penal Code. The charges are said to be based on his online writings for the Free Journalist Network in Viêt Nam, published prior to his arrest in 2008. He has been held incommunicado, without access to family visits, letters or medical and food supplies since 18 October 2010. A recent unconfirmed report claims he lost an arm in prison. Concerns for his welfare are acute.
    —————————————————————————————————————————-
    Resolución sobre el Viêt Nam presentado por el PEN Centre Suisse Romand y apoyado por el PEN Centro Suizo Alemán y el Centro PEN Suizo Italiano y retorromano

    La Asamblea de Delegados de PEN Internacional, en ocasión de su 77° Congreso Internacional en Belgrado, Serbia, del 12 al 18 de septiembre de 2011

    Perturbada profundamente debido a que las violaciones al derecho de libertad de expresión y opinión continúan en Vietnam. Los medios audiovisuales y de material impreso, Internet y editoriales están bajo estricto control estatal y sujetos a censura severa. Existe una restricción arbitraria sobre la libertad para buscar, recibir e impartir información, en particular relacionada con responsabilidad por violaciones de derechos humanos, corrupción e injusticia social.

    Seriamente preocupada por la persecución de escritores, periodistas, disidentes de bloggers y defensores de los derechos humanos, que han sido sancionados especialmente por el artículo 88 del Código Penal (Propaganda contra la República Soviética de Vietnam) que conlleva penas de 3 a 20 años en prisión, en violación al Artículo 19 de ICCPR.

    Atormentados por el hecho de que la mayoría de los detenidos pasan varios meses en detención antes del juicio, período durante el cual no tienen ningún derecho a que se presuman inocentes y se les niega acceso a sus abogados independientes que a su vez están sujetos a amenazas y acoso. Son difamados por los medios oficiales. No se les garantiza su derecho a un juicio imparcial y público por medio de jueces independientes.

    Abrumada e indignada por el hecho de que muchos escritores, periodistas, bloggers y defensores de los derechos humanos cumplen sentencias muy largas en prisión en campos de trabajo forzado y se les niega el derecho a recibir tratamiento médico adecuado y visitas de familiares. Algunos son mantenidos incomunicados o en confinamiento solitario. Algunos ex escritores en prisión, autores y bloggers han sido atacados o sujetos a breves períodos de detención, entre otros: Lê Thi Công Nhân (f), Pham Hông Son, Lê Quôc Quân, Bui Chat (2011 IPA Freedom to Publish Prize), Bui Thanh Hiêu, blogger Nguoi Buôn Gio, Nguyên Ngoc Nhu Quynh (f), blogger Me Nâm, Ta Phong Tân (f), blogger Công Ly Su Thât.

    Deplora que la liberación del escritor Trân Khai Thanh Thuy en junio de 2011 fue condicionada a su exilio forzado, después de cumplir 18 meses de su sentencia a prisión de 42 meses.

    Alarmada por el estado de salud y las condiciones de detención de los siguientes prisioneros, entre otros: Nguyên Van Ly, sacerdote y editor de la revista clandestina Tu Do Ngôn Luân (Libertad de Opinión), 8 años en prisión y 5 años en detención probatoria; Nguyên Xuân Nghia, poeta y novelista, miembro de la Asociación de Escritores de Hai Phong y de la red censurada de defensores de los derechos humanos (Bloc 8406), coeditor de la publicación clandestina Tô Quôc (Patria), 6 años en prisión y 3 años en detención probatoria; Truong Minh Duc, periodista y ciberdisidente, 5 años en prisión y 3 años en detención probatoria.

    Además, sumamente preocupada con los siguientes casos: Nguyên Phong, Nguyên Binh Thanh, Trân Quôc Hiên, Truong Quôc Huy, Pham Ba Hai, Pham Thanh Nghiên (f), Pham Van Trôi, Nguyên Manh Son, Trân Huynh Duy Thuc (16 años en prisión), Lê Thang Long, Lê Công Dinh, Nguyên Tiên Trung, Trân Anh Kim, Vi Duc Hôi, Pham Minh Hoang, Lu Van Bay and Cu Huy Hà Vu actualmente cumpliendo sus injustas sentencias en prisión, Dang Phuc Tuê (Ven. Thich Quang Dô), 83 años de edad, monje budista y poeta, con arresto domiciliario desde 2003, Nguyên Van Hai (blogger Diêu Cày), periodista, mantenido en prisión no obstante haber sido liberado desde octubre de 2010 después de cumplir 2 años y medio en prisión Phan Thanh Hai (blogger AnhBa SaiGon), abogado y periodista, arrestado en octubre de 2010, Nguyên Kim Nhan, ex escritor en prisión, nuevamente arrestado en junio de 2011.

    Insta a la República Socialista de Vietnam a que:
    1. Liberar, inmediatamente e incondicionalmente a los escritores, periodistas, bloggers y defensores de derechos humanos antes mencionados y a todas las personas actualmente en prisión o en detención probatoria por haber ejercido el derecho a la libertad de expresión.
    2. Cese en todos los ataques, actos de hostigamiento, amenazas de arresto arbitrario o detención preventiva cometidos contra todas las personas que tienen una postura disidente o que defienden la libertad de pensamiento, conciencia, religión y culto;
    3. Levante todas las restricciones arbitrarias impuestas a ex escritores en prisión, incluidos los que no han terminado de cumplir su periodo de detención probatoria.
    4. Mejore las condiciones en las prisiones y en los campos de trabajo forzado, detenga las agresiones cometidas por los presos comunes, prohíba y sancione toda forma de tortura y maltrato, permita que los presos de opinión que se encuentran enfermos sean hospitalizados y reciban la atención médica adecuada y que reciban visitas de sus familiares;
    5. Deje sin efecto toda censura y levante toda restricción a la libertad de opinión y expresión, libertad de prensa, libertad de crear y publicar, derecho de recibir información por todos los medios, incluido Internet, y libertad de asociación, de conformidad con los artículos 19, 21 y 22 del Pacto Internacional de Derechos Civiles y Políticos (ICCPR).

    Anexo: Estado de salud y condiciones de detención de los escritores en prisión, entre otros

    - Nguyên Van Ly, sacerdote y editor de la revista clandestina Tu Do Ngôn Luân (Freedom of Opinion). Lo sentenciaron en 2007 a 8 años en prisión seguidos de 5 años de detención probatoria. Anteriormente, había cumplido 15 años en prisión de 1977 a 2005. Sufrió un derrame cerebral en noviembre de 2009, el cual paralizó la mitad derecha de su cuerpo. Con temor a que muriera de otros derrames cerebrales, la Seguridad Pública lo transfirió a la ciudad de Huê en marzo de 2010. Fue colocado bajo vigilancia policial durante 12 meses para que consiguiera tratamiento médico antes de que retornara al campo de prisioneros. El 25 de julio de 2011, una ambulancia de la policía lo llevó de retorno al campo para que complete el resto de su sentencia hasta el 2015. Él todavía sufre de una parálisis parcial y de inflamación en la próstata que podría ser cancerosa;

    - Nguyên Xuân Nghia, poeta y novelista, miembro de la Asociación de Escritores de Hai Phong y de la red censurada de defensores de derechos humanos (Bloc 8406), coeditor de la publicación clandestina To Quoc (Patria) y autor de varios poemas, cuentos, notas, memorias y artículos. Lo sentenciaron en 2009 a 6 años en prisión seguidos de 3 años de detención probatoria. Sufre de hemorroides, úlceras estomacales, cálculos renales e inflamaciones reumáticas;

    - Truong Minh Duc, periodista y ciberdisidente. Lo condenaron en 2008 a 5 años en prisión seguidos de 3 años de detención probatoria por sus numerosos artículos sobre corrupción y abuso de poder. Se fracturó su brazo izquierdo en prisión. Se encuentra confinado junto con 60 delincuentes altamente reincidentes en un campo ubicado en las profundidades de la jungla. El acceso a visitas familiares y a provisiones y medicamentos, el cual ya era limitado (un paquete de 7 kg por cada visita mensual), se tornó más difícil y costoso. Sufre de presión arterial alta y enfermedades gastrointestinales.

  7. Lê Nguyên Hoàng Minh nói:

    QUYẾT NGHỊ VỀ VIỆT NAM của ĐẠI HỘI THẾ GIỚI VĂN BÚT QUỐC TẾ HỌP TẠI BELGRADE NƯỚC SERBIE
    Bản Tin Liên Hội Nhân Quyền Việt Nam ở Thụy Sĩ
    Thông qua Quyết Nghị về Việt Nam, Đại Hội Văn Bút Quốc Tế ở Belgrade, nước Serbie, tố cáo Cộng Sản Việt Nam đàn áp tàn bạo những người cầm bút
    đối kháng độc tài và bênh vực Nhân Quyền
    Như chúng tôi đã đưa tin, một Quyết Nghị về Việt Nam đã được Đại Hội Thế Giới Văn Bút Quốc Tế tại Belgrade, thủ đô nước Serbie, đồng thanh thông qua. Nhà thơ Nguyên Hoàng Bảo Việt, Phó chủ tịch Trung tâm Văn Bút Thụy Sĩ Pháp thoại, đã mang bản in gốc Dự thảo Quyết Nghị về Việt Nam đến dự Đại Hội Thế Giới Văn Bút Quốc Tế kỳ thứ 77 này. Từ ngày 12 đến 18 tháng 9 năm 2011, thành phố có biệt danh là ‘’Trái Tim của sông Danube’’, nơi an nghĩ của nhà văn Nobel Văn chương Ivo Andric, đã tiếp đón gần 250 nhà văn hội viên của hơn 90 Trung tâm Văn Bút và tân khách trong văn giới. Không quên ghi thêm đông đảo thân hữu tháp tùng các phái đoàn cùng nhiều phái viên thông tấn báo chí, truyền thanh và truyền hình. Tại Đại Hội, thi hữu Nguyên Hoàng Bảo Việt đã gặp lại nhà thơ Yên Sơn và phu nhân là bà Trần Ngọc Bích. Hai ông bà Yên Sơn và Trần Ngọc Bích đại diện cho Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại.
    Cũng nên nhắc lại, năm 2011 đánh dấu 90 năm Văn Bút Quốc Tế được thành lập, không bao lâu sau khi Đệ nhứt Thế chiến chấm dứt. Hơn nửa thế kỷ qua, với sự xuất hiện và hoạt động của Ủy Ban Bênh vực Nhà Văn bị Cầm tù (WIPC), Văn Bút Quốc Tế không ngừng cổ xúy và quảng bá văn chương đồng thời bênh vực quyền Tự do phát biểu và thể hiện quan điểm. Năm 2011 cũng là thời điểm Trung tâm Văn Bút Serbie kỷ niệm 85 năm gia nhập Hiệp Hội Nhà Văn Thế Giới. Với chủ đề “Văn chương, Ngôn ngữ Thế giới’’, Đại Hội Văn Bút Quốc Tế đã được nữ văn hữu Vida Ognjenovic, Chủ tịch Trung tâm Văn Bút Serbie, long trọng khai mạc chiều ngày 13 tháng 9 tại tòa đô chính Belgrade. Bà Vida Ognjenovic là một tác giả nổi tiếng, viết văn, soạn kịch, giảng dạy về nghệ thuật sân khấu. Bà còn là một nhà ngoại giao, từng làm đại sứ Serbie tại Na Uy và đương nhiệm đại sứ tại Đan Mạch. Buổi lễ khai mạc Đại Hội Văn Bút có sự hiện diện của Tổng Thống Boris Tadic, Thủ Tướng Mirko Cvetkovic và Bộ Trưởng Văn Hóa Predrag Markovic. Tổng Thống Cộng Hòa Serbie đã phát biểu và chào mừng những người cầm bút khắp năm châu đã mang tình bạn và vinh dự đến đất nước ông.
    Trung tâm Văn Bút Serbie đã hoàn thành tốt đẹp việc tổ chức Đại Hội Thế Giới Văn Bút Quốc Tế kỳ thứ 77, kết hợp với Lễ Hội Văn Chương Thế giới ‘’Trả Tự Do cho Ngôn ngữ’’. Chương trình Lễ Hội Văn Chương Thế Giới gồm có nhiều buổi đọc thơ văn quốc tế, tại thủ đô Belgrade và tại hai thành phố lớn Novi Sad ở miền Tây Bắc (cách Belgrade 65 cs) và Nis ở miền Đông Nam (cách thủ đô 250 cs). Đó là một thành quả thật xứng đáng được tuyên dương. Thiếu phương tiện, ít tiền bạc, các văn thi hữu Văn Bút Serbie đã đem hết cả tấm lòng vào việc làm cho Đại Hội. Các bạn được sự tự nguyện tiếp tay, tận tình giúp đỡ của nhiều thanh niên thanh nữ, sinh viên, ai cũng giữ được nụ cười dù vất vả, mệt mỏi trông thấy. Nên hiểu rằng chính quyền Serbie dân chủ, thoát thai từ Liên bang CHXHCN Nam Tư, chưa hoàn toàn khắc phục được hậu quả của các cuộc chiến bất công diễn ra mấy năm cuối thập niên 90. Phải kể thêm gánh nặng di sản của chế độ Cộng sản Tito, dù rằng Liên bang CHXHCN Nam Tư là một nước ‘’phồn thịnh’’ nhứt và ít ‘’nhiễm độc cộng sản’’ nhứt trong khối các nước Đông Âu. Chư hầu và tùy tinh của hai đảng Cộng sản Liên Sô và Trung Cộng, Cộng sản Việt Nam coi lãnh tụ Tito là kẻ thù vì phạm tội ‘’xét lại’’ và chủ trương ‘’phi liên kết’’. Dân tộc Serbie, dù không đông, là một dân tộc ‘’lớn’’, có lịch sử và văn hóa lâu đời, biết dung hợp với nhiều cộng đồng dân thiểu số (hơn 1 triệu trong số 7 triệu 400 ngàn người đang sinh sống tại nước Serbie). Phải nhìn nhận rằng đất nước Serbie đang cố gắng vươn lên trong nhiều lãnh vực, văn học nghệ thuật là một thí dụ điễn hình.
    Đáp lại lời mời gọi chân thành của các văn thi hữu Trung tâm Serbie, Trung Ương Văn Bút Quốc Tế hầu hết đều có mặt tại Đại Hội Belgrade. Như Chủ tịch John Ralston Saul (VB Gia Nã Đại), các Phó Chủ tịch Joanne Leedom-Ackerman (VB Hoa Kỳ), Lucina Kathmann (VB San Miguel de Allende), Kata Kulavkova (VB Macédoine), Andrei Bitov (VB Nga) và Eugene Schoulgin (VB Na Uy), Tổng Thư ký Hori Takeaki (VB Nhựt), Thủ Quỹ Eric Lax (VB Tây Hoa Kỳ), tân Giám đốc Điều hành Laura McVeigh (Anh), Giám đốc Chương trình Quốc tế Francis Frank Geary (Anh), các Ủy viên Ban Chấp hành như Markéta Hejkalová (VB Tiệp), Philo Ikonya (VB Kenya), Lee Gil-Won (VB Hàn quốc), Tarik Gunersel (VB Thỗ Nhĩ Kỳ), Yang Lian (VB Trung Hoa Độc Lập), Haroon Siddiqui (VB Gia Nã Đại), Mohamed Magani (VB Algérie), Chủ tịch Ủy ban Bênh vực Nhà Văn bị cầm tù (WIPC) Marian Botsford Fraser (VB Gia Nã Đại), Chủ tịch Ủy ban Nhà Văn vì Hòa bình Edvard Kovac (VB Slovénie), Quyền Chủ tịch Ủy ban Nhà Văn Nữ Lucina Kathmann (VB San Miguel de Allende) và Chủ tịch Ủy ban Dịch Thuật & Quyền Ngôn Ngữ Josep Maria Terricabras (VB Catalan). Đại Hội luôn luôn có hai khuôn mặt quen thuộc là Sara Whyatt, Giám đốc Chương trình và Cathy McCann, Chuyên viên Sưu Tầm của Ủy ban Bênh vực Nhà Văn bị cầm tù (WIPC). Phải kể thêm ba đại diện của tổ chức Mạng lưới các Thành phố Tạm Dung (ICORN) là Peter Ripken (Đức), Lunde Helge và Dyvik Elisabeth (Na Uy).

    21 Bản Quyết Nghị của Đại Hội Văn Bút Quốc Tế tại Belgrade
    Đại diện cho hơn 15 ngàn nhà văn và nhà thơ trên toàn cầu, Hội Đồng Đại Biểu Văn Bút Quốc Tế đã biểu quyết thông qua 21 bản Quyết Nghị. Trong số đó có 14 Quyết Nghị được Ủy Ban Bênh vực Nhà Văn bị Cầm Tù duyệt xét chung thẩm tại các phiên họp của Ủy Ban chuyên biệt này. Mười bốn Quyết Nghị đó liên quan đến : Bahreïn, Pays Basque, Belarus, Trung Cộng (Tây Tạng – Tân Cương – Nội Mông), Trung Cộng (Ouïgour), Cuba, Erythrée, Ba Tư, Irak, Mễ Tây Cơ, Nam Phi, Syrie, Syrie (Kurdes) và Việt Nam.
    Quyết Nghị về Việt Nam đã được Trung tâm Văn Bút Thụy Sĩ Pháp thoại biên soạn với sự tán trợ của hai Trung tâm Văn Bút Thụy Sĩ Đức thoại và Văn Bút Thụy Sĩ Ý thoại & Réto-romanche. Trước khi Hội Đồng Đại Biểu Văn Bút Quốc Tế đồng thanh phê chuẩn bản văn trong phiên họp khoáng đại ngày 16 tháng 9, VH Yên Sơn đã tuyên bố rằng VBVNHN ủng hộ toàn văn Quyết Nghị. Bản văn nhận được tất cả các Phiếu Thuận. Không một Phiếu Trắng, không một Phiếu Chống.
    Qua bản Quyết Nghị về Việt Nam, Văn Bút Quốc Tế nghiêm khắc tố cáo Cộng Sản Việt Nam đàn áp tàn bạo những người cầm bút đối kháng độc tài và bênh vực Nhân Quyền. Tự do phát biểu và thể hiện quan điểm là một trong những quyền căn bản hàng đầu. Văn Bút Quốc Tế không phải là ‘’bù nhìn’’ như báo Công An Cộng sản ở Sài Gòn bị chiếm đóng đã xuyên tạc một cách trơ trẽn. Nhắc lại, trong số báo CA ra ngày 29/03/2011, ‘’ký giả’’CA Hà Trình đã hằn học viết một bài với tựa đề ‘’Văn bút quốc tế (PEN International): Bù nhìn’’’. Để chê trách Văn Bút Quốc Tế đã thông qua Quyết Nghị về Việt Nam tại Đại Hội Tokyo (Nhựt) hồi tháng 9 năm 2010, -mỗi khi khai hội văn chương, PEN đã trở thành bù nhìn – đồng thời cực lực chỉ trích nhà thơ Nguyên Hoàng Bảo Việt, – để những kẻ đội lốt ‘’nhà văn, nhà thơ’’(…) mượn diễn đàn thực hiện những mưu đồ đen tối chống Việt Nam (sic).
    Quyết Nghị về Việt Nam vạch trần trước công luận quốc tế bản chất bất lương, vô liêm sĩ và cực kỳ hung bạo của chế độ Cộng sản Việt Nam. Tình trạng Nhân quyền ngày càng tồi tệ và trầm trọng. Nhiều cuộc bắt giam độc đoán, nhiều hành động trấn áp vô nhân đạo, nhiều vụ án bất công, phi pháp, rập khuôn công lý thời Staline. Ngụy quyền không ngừng khủng bố, bao vây, cô lập và đày đọa những người yêu nước thương đồng bào. Các nạn nhân của Cộng sản đã có can đảm đòi hỏi thực thi những quyền tự do dân chủ, tố cáo thủ phạm gây ra quốc nạn tham nhũng, hài tội đảng xã hội đen đã lạm dụng quyền thế để làm giàu trên mồ hôi nước mắt nhân dân, bán rẽ tài nguyên quốc gia, hiến dâng một phần lãnh thổ lãnh hải, chuyển nhượng chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa Trường Sa cho đế quốc bành trướng Cộng sản Bắc Kinh. Quyết Nghị về Việt Nam báo động các chính phủ dân chủ trên thế giới về tình cảnh nguy bách của nhiều tù nhân bị sa sút sức khoẻ hoặc lâm bệnh nặng có cơ nguy thiệt mạng, như trường hợp LM Nguyễn Văn Lý, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, nhà báo Trương Minh Đức, hoặc là trường hợp nhà báo Điếu Cày Nguyễn Văn Hải còn bị giam giữ bí mật hơn một năm trời và có tin công an CS vô tình tiết lộ rằng ông bị mất tay. Hãy đọc Quyết Nghị về Việt Nam để còn nghe thấy tiếng kêu thương, cảm nhận được nỗi đau buồn, niềm phẫn uất của nhiều gia đình tù nhân chính trị, ngôn luận và lương tâm Việt Nam đang gánh vác một phần đại khổ nạn của dân tộc. Tiếc rằng khuôn khổ hạn hẹp của Quyết Nghị chỉ cho nêu lên một số trường hợp tù nhân và tình cảnh tạm gọi là tiêu biểu, và tin tức cá nhân liên hệ đã được kiểm chứng.
    Genève ngày 12 tháng 12 năm 2011
    Liên Hội Nhân Quyền Việt Nam ở Thụy Sĩ
    Ligue Vietnamienne des Droits de l’Homme en Suisse
    Vietnamese League for Human Rights in Switzerland
    Nguồn tin và tài liệu: Liên Hội Nhân Quyền Việt Nam và nhà thơ Nguyên Hoàng Bảo Việt, Phó Chủ tịch Trung tâm Văn Bút Thụy Sĩ Pháp thoại đặc trách Ủy Ban Bênh Vực Nhà Văn bị cầm tù, thành viên Trung tâm Nhà Văn Việt Nam Lưu Vong và Hội Nhà Văn Liên Hiệp Quốc – Genève.

    ——————————————————————–
    Quyết Nghị về Việt Nam do Trung tâm Văn Bút Thụy Sĩ Pháp thoại soạn thảo với sự tán trợ của các Trung tâm Văn Bút Thụy Sĩ Đức thoại, Văn Bút Thụy Sĩ Ý thoại và Réto-romanche cùng sự ủng hộ của Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại.
    Hội đồng Đại biểu của Văn Bút Quốc Tế họp Đại Hội Thế Giới kỳ thứ 77 tại Belgrade, nước Serbie, từ ngày 12 đến ngày 18 tháng 9 năm 2010 :

    Lo ngại sâu xa vì sự vi phạm quyền tự do phát biểu và thể hiện quan điểm tiếp tục xảy ra ở Việt Nam. Các tòa báo in, các cơ quan truyền thông đại chúng (phát thanh và truyền hình), mạng lưới điện tử và các cơ sở xuất bản vẫn bị nhà nước kiểm soát chặt chẽ và phải chịu sự kiểm duyệt gắt gao. Việc cấm đoán tùy tiện vẫn tồn tại đối với quyền tự do tìm kiếm, thu nhận và chia sẻ tin tức, đặc biệt các tin tức nhằm xác định trách nhiệm của những hành động vi phạm nhân quyền, tham nhũng và bất công.

    Hết sức lo âu về sự bức hại và ngược đãi các nhà văn, nhà báo, tác giả nhựt ký điện tử có chính kiến khác biệt và những người hoạt động bênh vực Nhân Quyền bằng việc cáo buộc họ vào điều 88 Luật hình sự (Tội tuyên truyền chống nhà nước CHXHCNVN) với án phạt từ 3 đến 20 năm tù giam. Đây là sự vi phạm vào Điều 19 Công ước Quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị.

    Lo lắng vì phần lớn những người bị bắt đều bị giam giữ nhiều tháng trời, trước khi được đưa ra xét xử, mà không được quyền áp dụng “nguyên tắc giả định vô tội”, không được tiếp xúc với các luật sư độc lập – những người cũng luôn bị đe dọa và sách nhiễu. Những người bị bắt giữ luôn bị thóa mạ, bôi xấu, phỉ báng bởi truyền thông nhà nước. Các quyền được xét xử công khai và công bằng bởi các thẩm phán độc lập đều không được đảm bảo.

    Bất bình và phẫn nộ vì nhiều nhà văn, nhà báo, tác giả nhựt ký điện tử và các nhà hoạt động bênh vực Nhân Quyền phải chịu những án tù nặng nề trong các trại lao động cưỡng bức, không được bảo vệ trước các tấn công của các tù thường phạm, bị tước quyền được chăm sóc y tế thích hợp và không được gặp gỡ gia đình tới thăm nom. Một số người bị nhốt kín ở một nơi không ai biết hoặc bị biệt giam, bị cấm tiếp xúc với các tù nhân khác. Nhiều nhà văn cựu tù nhân, những nhà cầm bút và tác giả nhựt ký điện tử đã bị đánh đập hoặc bị giam cầm ngắn hạn như: bà Lê Thị Công Nhân, các ông Phạm Hồng Sơn, Lê Quốc Quân, Bùi Chát (người được Giải thưởng IPA, Quyền Tự do Xuất bản, năm 2011) và Bùi Thanh Hiếu (bút ký điện tử Người Buôn Gió), bà Nguyễn Ngọc Như Quỳnh (bút ký điện tử Mẹ Nấm) và bà Tạ Phong Tần (bút ký điện tử Công lý Sự thật).

    Phê phán việc buộc nhà văn Trần Khải Thanh Thủy phải lưu vong sau khi được trả tự do trước thời hạn tù vào tháng 6 năm 2011 (sau khi nhà văn đã thụ án 18 tháng trên tổng số 42 tháng án tù giam).
    Quan tâm vì được báo động về tình trạng sức khỏe và điều kiện giam cầm của nhiều tù nhân, đặc biệt là : Linh mục Nguyễn Văn Lý, biên tập viên của tạp chí Tự do Ngôn luận (không được công nhận hợp pháp), 8 năm tù giam và 5 năm tù quản chế; ông Nguyễn Xuân Nghĩa, nhà thơ và nhà văn, thành viên của Hội Nhà văn Hải Phòng và Khối 8406 (Mạng lưới Bênh vực Nhân quyền), biên tập viên báo Tổ Quốc (không được công nhận hợp pháp), 6 năm tù giam và 3 năm tù quản chế; ông Trương Minh Đức, nhà báo và nhà dân chủ đối kháng sử dụng Internet, 5 năm tù giam và 3 năm tù quản chế.

    Đồng thời lo lắng cho trường hợp những tù nhân sau đây: các ông Nguyễn Phong, Nguyễn Bình Thành, Trần Quốc Hiền, Trương Quốc Huy và Phạm Bá Hải, bà Phạm Thanh Nghiên, các ông Phạm Văn Trội, Nguyễn Mạnh Sơn, Trần Huỳnh Duy Thức (16 năm tù giam), Lê Thăng Long, Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, Trần Anh Kim, Vi Đức Hồi, Phạm Minh Hoàng, Lư Văn Bảy và Cù Huy Hà Vũ. Tất cả những tù nhân này đang phải chịu các bản án tù bất công. Và các trường hợp khác cũng đáng quan ngại như Hòa thượng Thích Quảng Độ, (thế danh Đặng Phúc Tuệ), 83 tuổi, tu sĩ Phật giáo, nhà thơ, đang bị quản thúc từ năm 2003; nhà báo Nguyễn Văn Hải (bút ký điện tử Điếu Cày), hiện vẫn đang bị giữ trong tù sau khi đã mãn án tù giam (2 năm 6 tháng) vào tháng 10 năm 2010; Phan Thanh Hải (bút ký điện tử AnhBa Saigon), luật sư và nhà báo, bị bắt vào tháng 10 năm 2010; Nguyễn Kim Nhàn, cựu tù nhân, bị bắt trở lại vào tháng 6 năm 2011.

    Thúc giục nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt nam hãy:

    - Trả tự do, ngay lập tức và không điều kiện, tất cả những nhà văn, nhà báo, tác giả nhựt ký điện tử và các nhà hoạt động bênh vực Nhân Quyền nêu trên, cùng tất cả những người đang bị giam cầm chỉ vì đã hành sử các quyền tự do phát biểu và thể hiện quan điểm;
    - Chấm dứt các tấn công, sách nhiễu, đe dọa bắt bớ hoặc giam cầm tùy tiện đối với những người có quan điểm và chính kiến khác biệt hoặc những người cổ xúy cho tự do tư tưởng, tự do về lương tâm, tôn giáo và tín ngưỡng;
    - Bãi bỏ mọi hạn chế độc đoán đối với các cựu tù nhân ngôn luận và lương tâm, kể cả những người vẫn chưa hết hạn tù quản chế;
    Cải thiện điều kiện giam cầm trong- các nhà tù và các trại lao động cưỡng bức, chận đứng việc để các tù thường phạm gây hấn và tấn công các tù nhân ngôn luận và lương tâm, nghiêm cấm và trừng phạt mọi hình thức tra tấn, làm nhục, và cho phép các tù nhân ngôn luận và lương tâm bị bệnh được chữa trị tại bệnh viện, được chăm sóc y tế thích hợp, cũng như tạo điều kiện dễ dàng cho gia đình tới thăm nom;
    Xóa bỏ mọi hình thức kiểm duyệt và- giải tỏa các cấm đoán về quyền tự do phát biểu và thể hiện quan điểm, quyền tự do báo chí, tự do sáng tạo và xuất bản, quyền được thông tin bằng mọi phương tiện kể cả Internet, và quyền tự do hội họp, phù hợp với các Điều 19, 21 và 22 của Công ước Quốc tế và các quyền Dân sự và Chính trị (PIDCP/ICCPR).

    ———————————————————————————————————————–

    Phụ bản: Tình trạng sức khỏe và điều kiện giam cầm của các nhà văn đang bị cầm tù, trong đó có
    - Linh mục Nguyễn Văn Lý, biên tập viên của tạp chí Tự do Ngôn luận (không được công nhận hợp pháp). Năm 2007, ông bị kết án 8 năm t giam và 5 năm tù quản chế. Trước đây ông đã từng bị tù giam 15 năm trong khoảng thời gian 1977-2005. Tháng 11 năm 2009, ông đã bị tai biến mạch não gây liệt nửa người phải. Do lo sợ ông sẽ chết nên bộ Công an CS đã chuyển ông về thành phố Huế vào tháng 3 năm 2010 để quản thúc và để ông được điều trị. Ngày 25 tháng 7 năm 2011, ông đã bị công an đưa trở lại trại tù để thi hành tiếp bản án tù giam có thời hạn cuối vào năm 2015. Ông vẫn bị liệt một phần cơ thể và bị chứng u tuyến tiền liệt có thể chuyển thành ung thư.
    - Nhà văn và nhà thơ Nguyễn Xuân Nghĩa, hội viên Hội Nhà văn Hải phòng, thành viên Khối 8406 (Mạng lưới Bênh vực Nhân Quyền), biên tập viên báo Tổ Quốc (không được công nhận hợp pháp), tác giả của nhiều bài thơ, truyện ngắn, bút ký, sổ tay, bài báo. Năm 2009, ông bị kết án 6 năm tù giam và 3 năm tù quản chế. Hiện ông đang bị chứng trĩ, loét dạ dày, sỏi thận và viêm khớp.
    - Nhà báo Trương Minh Đức, nhà dân chủ đối kháng sử dụng Internet. Năm 2008, ông bị kết án 5 năm tù giam và 3 năm tù quản chế vì đã viết nhiều bài báo về tham nhũng và lạm dụng quyền lực. Ông bị gãy tay trái ở trong tù. Bị giam chung với 60 tù hình sự nguy hiểm ở một trại giam trong rừng sâu. Ông còn bị hạn chế gặp gia đình và nhận quà, thuốc (mỗi tháng chỉ được nhận một gói quà nặng 7kg). Ông đang bị bệnh cao huyết áp và bệnh rối loạn tiêu hóa.
    - Nhà báo tự do Nguyễn Văn Hải (được biết nhiều với bút ký điện tử Điếu Cày), đáng lẽ ông phải được trả lại tự do sau khi đã mãn án tù giam (2 năm 6 tháng) vào tháng 10 năm 2010. Tuy nhiên ông lại bị chuyển vào trại giam của bộ Công an thành phố dường như với các cáo buộc có thể vào điều 88 Luật hình sự. Các cáo buộc đó được cho là căn cứ vào các bài viết trên Internet của ông trước khi ông bị bắt vào năm 2008 nhằm cổ xúy cho Hệ thống Nhà báo Tự do ở Việt Nam. Ông đang bị biệt giam, không được gặp gia đình, không được nhận thư, thuốc y tế và thực phẩm từ ngày 18 tháng 10 năm 2010. Một tin tức chưa được kiểm chứng gần đây cho biết ông đã bị mất một tay trong nhà tù. Sức khỏe của ông đang trong tình trạng nguy cấp.

    Ghi chú: Hà Tản Viên và Lê Hoàng Minh chuyển dịch ra tiếng Việt từ nguyên văn tiếng Pháp và tiếng Anh của Trung tâm Văn Bút Thụy Sĩ Pháp thoại. Văn Bút Quốc Tế cung cấp bản tiếng Tây Ban Nha.
    —————————————————————————————————————
    Đại biểu những Trung tâm Văn Bút Quốc Tế đã đồng thanh phê chuẫn
    Quyết Nghị về Việt Nam tại Đại Hội Thế Giới Văn Bút Quốc Tế Belgrade, nước Serbie

    Centre Algérien, Centre Allemand, Centre Américain, Centre Anglais, Centre Asie Centrale, Centre Autrichien, Centre Basque, Centre Belge d’expression française, Centre Belge d’expression flamande, Centre Bengalais, Centre Biélorusse, Centre Bosniaque, Centre Brésilien, Centre Bulgare, Centre Canadien, Centre Catalan, Centre Chinois Indépendant, Centre Chinois de Taipei, Centre Chypriote, Centre Coréen, Centre Croate, Centre Danois, Centre Ecossais, Centre des Ecrivains Cubains en Exil, Centre des Ecrivains d’expression allemande à l’Etranger, Centre des Ecrivains Tibétains à l’Etranger, Centre des Ecrivains Vietnamiens à l’Etranger, Centre Egyptien, Centre Espéranto, Centre Estonien, Centre des Etats-Unis, Centre Ethiopien, Centre des Ecrivains d’expression somalienne, Centre Finnois, Centre Français, Centre Galicien, Centre Ghanéen, Centre Grec, Centre Guadalajara, Centre Guinéen, Centre Haïti, Centre Hongrois, Centre Indien, Centre Irlandais, Centre Italien, Centre Japonais, Centre Jordanien, Centre Kenyan, Centre Kosovo, Centre Kurde, Centre Lithuanien, Centre Macédonien, Centre Malawite, Centre Marocain, Centre de Melbourne, Centre Moldave, Centre Monténégrin, Centre Népalais, Centre Néo-Zélandais, Centre Nigérien, Centre Norvégien, Centre Occitan, Centre Ougandais, Centre Ouïghour, Centre Palestinien, Centre des Pays-Bas, Centre Polonais, Centre Portugais, Centre Québécois, Centre Roumain, Centre Russe, Centre de San Miguel d’Allende, Centre Sénégalais, Centre Serbe, Centre de Sierra Léone, Centre Slovaque, Centre Slovène, Centre Sud-Africain, Centre Suédois, Centre Suisse Allemand, Centre Suisse Italien et Rhétoromanche, Centre Suisse Romand, Centre Tartare, Centre Tchèque, Centre de Trieste, Centre Tunisien, Centre Turc, Centre Ukrainien, Centre Zambien.
    ——————————————————————————————————–
    Algerian Centre, All-India Centre, American Centre, Austrian Centre, Bangladeshi Centre, Basque Centre, Belarusian Centre, Belgian (Dutch Speaking) Centre, Belgian (French Speaking) Centre, Bosnian-Herzegovina Centre, Brazilian Centre, Bulgarian Centre; Canadian Centre, Catalan Centre, Central Asia Centre, Croatian Centre, Cuban Writers in Exile Centre, Cypriot Centre, Czech Centre, Danish Centre, Egyptian Centre, English Centre, Esperanto Centre, Estonian Centre, Ethiopian Centre, Finnish Centre, French Centre, Galician Centre, German Centre, German Speaking Writers Abroad Centre, Ghanaian Centre, Greek Centre, Guadalajaran Centre, Guinean Centre, Haiti Centre, Hungarian Centre, Independent Chinese Centre, Irish Centre, Italian Centre, Japanese Centre, Jordanian Centre, Kenyan Centre, Korean Centre, Kosovan Centre, Kurdish Centre, Lithuanian Centre, Macedonian Centre, Malawian Centre, Melbourne Centre, Moldovan Centre, Montenegrin Centre, Moroccan Centre, Nepalese Centre, Netherlands Centre, New Zealand Centre, Nigerian Centre, Norwegian Centre, Occitan Centre, Palestinian Centre, Polish Centre, Portuguese Centre, Quebecois Centre, Romanian Centre, Russian Centre, San Miguel de Allende Centre, Scottish Centre, Senegal Centre, Serbian Centre, Sierra Leone Centre, Slovak Centre, Slovene Centre, Somali-Speaking Writers Centre, South African Centre, Suisse Romand Centre, Swedish Centre, Swiss German Centre, Swiss Italian and Reto-Romansh Centre, Taipei Chinese Centre, Tatar Centre, Tibetan Writers Abroad Centre, Trieste Centre, Tunisian Centre, Turkish Centre, Ugandan Centre, Ukrainian Centre, USA Centre, Uyghur Centre, Vietnamese Writers Abroad Centre, Zambian Centre.

    (Còn tiếp … Quyết Nghị về Việt Nam các bản tiếng Pháp, Anh và Tây Ban Nha )

  8. Son nói:

    Thi Nga là ai mà chán thế, cứ chửi người ta không à. Chẳng biết nói gì cả, báo chí gì mà vô văn hóa quá, VN mà có mấy tay báo chí dốt nát, chửi rủa kiểu này, VN không xấu hổ, không sụp đỗ mới là lạ.

  9. Tuấn Nguyễn nói:

    Tác giả Thi Nga không lập luận cho thiên hạ biết hai cá nhân trên không xứng đáng hay tổ chức trao giải không xứng đáng hay cả hai đều không không xứng đáng .
    Còn viết như rác – láo toét thì chả ai đoái hoài .
    Mong Thi Nga có cái nhìn tổng quát và khách quan . Trên đời này không ai là xấu hay tốt cả , nhất là vấn đề quan điểm . Hôm nay là sai còn ngày mai thì đúng ai biết chừng .
    Còn viết như vậy thiên hạ bảo là văn nô , còn nô cho ai thì tự tâm mà hiểu .
    Lịch sự lắm rồi !!

  10. Tuấn Nguyễn nói:

    Phản động là đi ngược lại với xu thế tiến bộ của xã hội và trào lưu thế giới , vi phạm thô bạo đến tự do cơ bản của công dân và tất nhiên vi phạm nhân quyền . Ai phản động ?

  11. Tèo nói:

    ” Những kẻ được VHRN cho “giải nhân quyền” đều là những phường dá áo túi cơm cắm đầu tham gia vào các hoạt động chống Việt Nam theo “kịch bản” của các thế lực ngoại bang để nhận những đồng đôla bẩn thỉu”
    - Còn đứa viết bài bêu xấu không có một chút chứng cứ thì nhận cái gì bẩn thỉu cho xứng đáng đây ? TRƠ TRẼN !

  12. Người VN nói:

    Thực ra thì bài viết của Thi Nga chẳng có gì ghê gớm lắm cũng chỉ là những luận điệu mà hơn 36 năm qua người dân thường hay nghe khi có một ai muốn nói về bộ mặt thật của những người tự rêu rao là vì dân vì nước , thực ra bọn chúng đã tổ chức ra một đảng phái lừa gạt nhân dân thổi phồng đường lối chính sách , kìm hảm tư duy tiến bộ của giới trí thức , lừa gạt giai cấp công nông biến họ thành công cụ để bọn chúng bóc lột bằng hình thức mượn tay những người nước ngoài đầu tư vào VN nhìn vào thực tế cuộc sống hiện nay của họ thì thấy rõ . Hiện tại phe đảng của chúng đã hình thành nhóm lợi ích được hậu thuẩn bởi quyền lực chính trị sẳn sàng ra tay đàn áp vu khống và dùng bạo lực đối với những ai có bất cứ chính kiến nào phá hỏng lợi ích của bọn chúng cho dù những chính kiến ấy hoàn toàn có lợi cho dân tộc cụ thể như việc chúng đã vu khống bắt giữ và xử tội CHHV không chỉ ở VN mà ngay cả thế giới cũng thấy rõ là xài “luật rừng” .Bọn chúng thừa biết rằng ngày nay khi chúng nói điều gì hay phát biểu điều gì thì dân chúng hoàn toàn không tin nhưng họ vẩn phải thực hiện gạt được ai thì cứ gạt ngay cả có một số phát thanh viên hay những nhà báo lề phải khi viết hay nói họ cảm thấy ngượng miệng do vì cuộc sống nên buộc họ phải làm những việc họ hoàn toàn không muốn

  13. 1nxx nói:

    Hoan hô VHRN đã chọn đúng những người đấu tranh xuất sắc nhất vì quyền con người tại VN để trao giải. Dù sao Thi Nga cũng đã tường thuật chi tiết buổi lễ trao giải cho mọi người biết, còn thủ đọan ngậm máu phun người của Thi Nga chẳng có tác dụng gì, ngược lại chúng làm cho bạn đọc khâm phục tiến sỹ CHHV và Đỗ Thị Minh Hạnh hơn mà thôi.

  14. Thanh nói:

    Thi Nga kính mến,

    Làm người lương thiện thì không chỉ quan tâm đến son-phấn, mà còn cần quan tâm cả đến rác rưởi nữa. Không đáng quan tâm mà lại viết một bài có tới 1431 từ và có cả ảnh minh họa là sao ? Hiểu thế nào đây ? Nếu hiểu là “có tật giật mình” có đúng không ?

    Thực tế cho biết,

    Các viện trợ, tài trợ về rất nhiều lĩnh vực: chi phí trồng rừng; chi phí xây dựng đường-trường-trạm; tài trợ giáo dục và chuyển giao công nghệ; việc sử dụng các sản phẩm có ích (ô tô, xe máy, máy tính, điện thoại, thuốc chữa bệnh và thiết bị y tế …); ngoại hối cỡ trên dưới 10tỷ Đô la một năm, và cả “con chữ quốc ngữ” dùng để viết này nữa … đều do các quốc gia phát triển mang đến cho dân Việt Nam.
    Nếu vậy, Tại sao Ít thấy cảm ơn, hay bày tỏ biết ơn, mà toàn thấy phong cho họ những danh hiệu xấu nết, xấu tính thế ? Nói như Thi Nga để vụ lợi chính trị, do đạo đức, hay do mượn lời người khác vậy ? – Trong cả ba trường hợp đều cần xem lại đạo đức làm người của mình ( chứ không phải “Đạo đức cách mạng” đâu ) và nâng cao sự hiểu biết.

    Láng giềng Trung Quốc còn bỏ tù công dân nước mình được Quốc tế trao giải Nobel cơ. Tuy nhiên, không thấy họ chửi rủa các tổ chức trao giải thưởng. Trung Quốc cũng tự sinh ra giải thưởng Khổng Tử, rồi gợi ý và định trao cho Tổng thống Nga Puttin nhưng Tổng thống Nga không chịu nhận. Không biết vì sao ? có lẽ là do Tổng thống Nga không biết Khổng Tử là nam hay là nữ, đang bị tù hay vẫn làm-ăn bình thường cũng nên ?

    Tương tự Láng Giềng Tốt, Việt Nam cũng nên cân nhắc việc thử trao Huân chương Hồ Chí Minh cho Nhà văn, Tổng thống Mỹ Obama xem ? Có khi Tổng thống phấn khởi lắm đấy ? Thi Nga nhớ nhắc Ban thi đua khen thưởng TW nhé!
    ( hình như tiếng Anh không có từ Thi đua kiểu Xã hội chủ nghĩa – không sao, càng làm cho Tổng thống phấn khởi hơn ).

  15. conrong nói:

    Con chó mạo danh ” Thi Nga” hãy cút khỏi mảnh đất này, “Đồ chó chết”, ” Đồ bày cừu đột lót người”. “Chu di Tam Tộc mày”.

  16. TỔNG THỐNG MỸ BARACK OBAMA : EMAIL, ĐIỆN THOẠI, BLOG, WEB nói:

    TA NÓI TA NGHE MÃI SAO ??

    TA VIẾT TA ĐỌC MÃI SAO ??

    HÃY HỘI NHẬP – TÌM CÁCH ĐƯA VIỆT NAM RA THẾ GIỚI VÀ ĐƯA THẾ GIỚI VÀO VIỆT NAM !!

    HÃY ĐẤU TRANH TOÀN DIỆN TRÊN MỌI MẶT TRẬN VÌ TỰ DO DÂN CHỦ !!

    CÁC ĐỊA CHỈ CÓ THỂ CẦN :

    TỔNG THỐNG MỸ BARACK OBAMA VÀ TÒA BẠCH ỐC : EMAIL, ĐIỆN THOẠI, BLOG, WEB :
    http://www.emailthepresident.com/
    http://www.whitehouse.gov/contact

    TỔNG THỐNG PHÁP NICOLAS SARKOZY : EMAIL, ĐIỆN THOẠI, WEB:
    http://www.elysee.fr/president/la-presidence/ecrire-au-president/adresser-vos-messages-a-nicolas-sarkozy.11220.html

    THỦ TƯỚNG ĐỨC ANGELA MERKEL: EMAIL, ĐIỆN THOẠI, BLOG, WEB:
    http://www.angela-merkel.de/page/145.htm
    http://www.cdu.de/kontakt/213.htm

    THỦ TƯỚNG ANH DAVID CAMERON : EMAIL, ĐIỆN THOẠI, BLOG, WEB:
    http://www.davidcameron.com/2007/06/contact-david-cameron.html
    http://www.number10.gov.uk/contact-us/

    BỘ NGOẠI GIAO MỸ, ANH, PHÁP, ĐỨC :
    http://contact-us.state.gov/app/ask/session/L3RpbWUvMTMyMjk2NDQ4OS9zaWQvd2dsM25JS2s%3D
    http://www.fco.gov.uk/en/global-issues/human-rights/
    http://www.diplomatie.gouv.fr/en/france-priorities_1/democracy-human-rights_1101/index.html
    https://www.auswaertiges-amt.de/EN/Service/Contact/contact_node.html?https=1

    CÁC ĐẠI SỨ QUÁN MỸ, ANH, PHÁP, ĐỨC TAI VIỆT NAM :
    http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/vi/contact-us.html
    http://ukinvietnam.fco.gov.uk/vi/about-us/our-embassy/contact-us
    http://www.ambafrance-vn.org/spip.php?article2954
    https://hanoi.diplo.de/Vertretung/hanoi/vi/Kontakt.html

    DANH SÁCH CÁC ĐẠI SỨ QUÁN NƯỚC NGOÀI KHÁC Ở VN VÀ ĐẠI SỨ QUÁN VN Ở NƯỚC NGOÀI:
    http://lanhsuvietnam.gov.vn/default.aspx

    CÁC ĐÀI PHÁT THANH QUỐC TẾ :
    Đài tiếng nói Hoa Kỳ VOA : http://www.voanews.com/vietnamese/news/
    Đài BBC : http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/
    Đài nước Pháp toàn cầu RFI : http://www.viet.rfi.fr/
    Đài Á châu tự do RFA : http://www.rfa.org/vietnamese/

    CÁC TỔ CHỨC NHÂN QUYỀN QUỐC TẾ :
    HRW : http://www.hrw.org/en
    FIDH : http://www.fidh.org/-Vietnam,234-
    CAO ỦY LIÊN HIỆP QUỐC : http://www.un.org/en/rights/
    http://www.ohchr.org/EN/AboutUs/Pages/ContactUs.aspx

    CHÍNH PHỦ MỸ : http://www.state.gov/g/drl/hr/index.htm

    DANH SÁCH NHIỀU TỔ CHỨC NHÂN QUYỀN KHÁC:
    http://www.hrweb.org/resource.html#HROrganizations
    http://dir.yahoo.com/society_and_culture/issues_and_causes/human_rights/organizations/
    http://www.vietnamhumanrights.net/viet/links.htm

    CẦM QUYỀN ĐỘC TÀI VN :

    ĐẢNG CSVN: http://dangcongsan.vn/cpv/
    CHÍNH PHỦ VN: http://www.chinhphu.vn/cttdtcp/
    VĂN P CHÍNH PHỦ: http://www.chinhphu.vn/portal/page?_pageid=33,2408565&_dad=portal&_schema=PORTAL
    QUỐC HỘI VN: http://www.na.gov.vn/htx/Vietnamese/#dC6cq8kE089C
    BỘ NGOẠI GIAO VN:http://mienthithucvk.mofa.gov.vn/Trangch%E1%BB%A7/tabid/54/Default.aspx
    BỘ NỘI VỤ VN: http://moha.gov.vn/Plus.aspx/vi/1/0/
    BỘ CÔNG AN VN: http://www.mps.gov.vn/web/guest/home
    CÔNG AN VN: http://www.cand.com.vn/
    BỘ TƯ PHÁP VN: http://moj.gov.vn/Pages/home.aspx
    QUÂN ĐỘI VN: http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-VN/43/Default.aspx

  17. 1 BẦY GIA SÚC, 1 BẦY NÔ LỆ CỦA ĐỘC TÀI, ĐỘC ĐẢNG CSVN ?? nói:

    - Chúng ta không phải là một bầy gia súc của độc tài – độc đảng csvn,

    - Chúng ta không phải là một bầy nô lệ của độc tài – độc đảng csvn,

    - Chúng ta hãy đừng để cho độc tài – độc đảng csvn đánh cắp mất phẩm giá con người ,

    - Chúng ta hãy đừng bao giờ quên đang sống trong 1 trại tập trung khổng lồ của 1 chủ trại là độc tài – độc đảng csvn,

    - Nước mắt đã thành sông, thành biển !!

    - Uất hận đã thành núi, thành rừng !!

  18. ÔNG CÙ HUY HÀ VŨ LUÔN CỔ VŨ CHO : ĐA ĐẢNG ĐỂ ĐẤT NƯỚC PHÁT TRIỂN HƠN !! nói:

    Độc đảng, độc tài đã biến Tổ Quốc Việt Nam thành 1 trại tập trung khổng lồ – 1 chủ trại đảng csvn !!

    Đảng CSVN không chấp nhận cạnh tranh chính trị là hèn nhát,

    Đảng CSVN không chấp nhận cạnh tranh chính trị là cố tình vơ vét,

    Đảng CSVN không chấp nhận cạnh tranh chính trị là cố tình cai trị nhân dân,

    Đảng CSVN không chấp nhận cạnh tranh chính trị là đơn độc trên thế giới,

    Ai cũng biết rằng cạnh tranh kinh tế đã và đang luôn luôn đem lại những điều tốt đẹp hơn và tiến bộ hơn.

    Vì hạnh phúc nhân dân, vì tiến bộ phát triển !

    Hãy cùng nhau cạnh tranh chính trị lành mạnh !

    Có thể bị mất quyền lực của một nhóm nhỏ người, nhưng sẽ không bị mất lòng toàn dân

  19. Nghe Cay nói:

    Lại là Thi Nga
    Thực ra toi cũng chả quan tâm đến HVRN, nhưng với tôi Tiến sĩ CHHV là một trí thức lớn, một người có tầm nhìn trước thời đại. Việc HVRN trao quyền cho ai là quyền dân chủ của họ, còn việc Thi Nga (cái tên nghe mỹ mìu vậy) sao lại có những lời lẽ khiếm nhã về Tiến sĩ CHHV, về Đỗ Thị Minh Hạnh như vậy, không nên mang đời tư người khác ra để dày xéo Thi Nga nhé.
    Tôi không phủ nhân vai trò của ĐCSVN trong việc giải phóng đất nước, nhưng càng ngày ĐCSVN đã lộ nguyên hình là một tổ chức độc tài, thủ đoạn, hèn với giặc Tàu, ác với dân sinh. Dưới sự lãnh đạo của ĐCS, tình trạng tham nhũng được ví như cả bầy sâu (Lời chủ Tịch Nguyễn Minh Triết), trí thức thì bị đàn áp vì dám nếu quan điểm sống của mình cũng như xã hội mình đang sống, nông dân thì bị cướp đất trông trọt, công nhân phải bán mình làm công cho các công ty nước ngoài (để kiếm sống) chứ không được làm việc trên quê hương Việt Nam, người dân không còn niềm tin vào Pháp luật mà phải xử với nhau bằng Luật rừng.
    ĐCSVN lãnh đạo như vậy đấy, nếu có giàu có mà suy đồi đạo đức xem như mất tất huống gì đất nước vừa nghèo mà xã hội suy đồi đạo đức đến mức nà thông qua tin tức sự kiện VN hàng ngày. Ngẫm mà xót xa cho quê hương Việt nam.

  20. vào đảng để đục khoét nói:

    Nay mai nhân dân VN cũng sẽ trao giải tham nhũng và bán nước hại dân cho người cầm lái vĩ đại đưa đất nước và nhân dân xuống vực thẳm của khổ cực nghèo đói bằng con tàu Vinashin
    bằng những ký kết đen tối tham tàn của 14 vị đỉnh cao trí tuệ , những đảng viên sảo trá., hút máu nhân dân cần lao . Các vị tiên tổ đang tóm dần những kẻ đốn mạt leo lẻo đạo đức HCM

  21. Tư Kent xe ôm nói:

    Cái lưỡi gỗ của ai thế này anh Phong ?
    bộ đồng chí Gahdafi, hình như sắp tới ngày th1ư 49 rùi đấy đấy Phong !

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s