TS Cù Huy Hà Vũ: Ðồng hành quân sự với Hoa Kỳ là mệnh lệnh của thời đại!

<– Bản đồ Trung Quốc xuất bản năm 1904 ghi rõ cực nam nước này là đảo Hải Nam, 
Trước khi sự kiện Tranh chấp biển Đông giữa Việt Nam với Trung Quốc năm 2011 diễn ra gần 1 năm, trả lời phỏng vấn đài VOA về cuộc tranh chấp chủ quyền Biển Đông, Cù Huy Hà Vũ từng cho rằng tham vọng của Trung Quốcbiển Đông là “quá rõ ràng” với sơ đồ gồm 9 đoạn hình “lưỡi bò“,[47] và đồng hành quân sự với Hoa Kỳ để đối phó với Trung Quốc là “mệnh lệnh của thời đại”.[48]

Ông Vũ cho rằng chủ nghĩa cộng sản Trung Quốc sau khi Đông Âu sụp đổ đã biến tướng thành chủ nghĩa đế quốc cổ điển hay chủ nghĩa Tân Đại Hán với đặc trưng là sự bành trướng lãnh thổ[48] và Trung Quốc đang trở thành mối đe dọa quân sự có tính toàn cầu,[48] nên Việt Nam không thể “tự lực cánh sinh” mà phải dựa vào liên minh quân sự với cường quốc hạt nhân khác.[48] Hiện nay lực lượng phòng thủ biển của Việt Nam là vô cùng yếu kém, “bằng chứng là Quốc hội Việt Nam đã buộc ngư dân phải tự bảo vệ mạng sống của họ khi ra khơi”; trong khi đó chi quá nhiều tiền vào quốc phòng và mua sắm phương tiện chiến tranh sẽ đẩy Việt Nam vào khủng hoảng kinh tế sâu sắc.[47]

Theo ông Hà Vũ, nếu không có Hoàng SaTrường Sa thì sẽ không có đường lưỡi bò, do vậy Trung Quốc phải chiếm hữu hai quần đảo này của Việt Nam bằng mọi giá; và để đối phó với việc Trung Quốc xâm lược lãnh thổ Việt Nam như đã làm vào năm 1974 ở Hoàng Sa, và năm 1988 ở Trường Sa, Cù Huy Hà Vũ cho rằng liên minh quân sự với Mỹ sẽ giúp Việt Nam khẳng định và bảo vệ thành công chủ quyền của mình đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.[48] Liên minh quân sự giữa Việt Nam và Mỹ theo ông Vũ sẽ có bản chất tương tự như liên minh song phương hiện có giữa Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan, Philippines, Thái Lan với Mỹ.[48]

Về phía Mỹ, Cù Huy Hà Vũ phân tích rằng liên minh quân sự với Việt Nam sẽ giúp Mỹ có điều kiện hoàn tất chiến lược quân sự Đông Á của mình, và khép kín “vành đai” ngăn chặn bành trướng trên biển của Trung Quốc được cấu thành bởi các liên minh quân sự hiện hữu giữa Mỹ với Nhật Bản, Hàn Quốc, và Đài Loan.[47]

Cù Huy Hà Vũ từng đấu tranh để đòi lại Đàn Âm hồn – Đài liệt sĩ chống ngoại xâm đầu tiên của Việt Nam, và đề nghị công nhận liệt sĩ cho các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh khi đánh nhau với Trung Quốc ở Hoàng Sa năm 1974.[17][49]

Theo Wiki

Sự cố “tàu Bình Minh 02 của Việt Nam bị tàu hải giám Trung Quốc cắt cáp” một lần nữa minh định việc gắn bó mật thiết với Hoa Kỳ là một việc ĐCSVN nên làm trong lúc này, mặc dầu hơi muộn màng, nhưng có còn hơn không, khi chính sách “nhún nhường” với Bắc Kinh không còn hiệu nghiệm nữa.  Những quốc gia đã từng chứng tỏ “lòng son” với Hoa Kỳ như Đại Hàn, Đài Loan, Phi Luật Tân, Tân Gia Ba, Thái Lan, Nam Dương, Nhật Bản, v.v. trong quá khứ luôn được Hoa Kỳ ủng hộ mạnh mẽ trong việc gìn giữ biên cương chống lại sự bành trướng của Trung Hoa.  Sự đồng lòng của người Việt chống cộng ỏ hải ngoại và người Việt trong nước, qua sự cố “tàu Bình Minh 02″, lại một lần nữa làm sáng tỏ tấm lòng trung trinh với tổ quốc trong việc chống ngoại xâm – kẻ thù truyền kiếp của Việt Nam từ phương Bắc: giống nòi bành trướng Hán tộc.

Lịch sử cũng chứng tỏ cho ta thấy những quốc gia chọn Trung Hoa là chỗ dựa trong bàn cờ tranh chấp giữa các nước lớn với nhau thường mang số phận nghèo đói, mất quyền tự chủ, và tài sản quốc gia bị khánh kiệt.  Từ thời Minh Thái Tổ đến nay, người Hán luôn đặt diệt chủng lên hàng quốc sách, vì có tiêu diệt những dân tộc khác thì Hán tộc mới có cơ hội phát triển trên những vùng đất mà người Hán đã và sẽ đặt chân đến.

Khuyến khích Pol Pot hay Kim Nhật Thành hay Hồ Chí Minh giết dân của họ là việc mà những “triều đại cộng sản Trung Hoa” hiện nay đã làm trong hậu bán thế kỷ 20.  Phi Châu là điểm nhắm mới nhất của Trung Hoa trong chính sách Hán hoá.  Hãy nhìn vào những cuộc chiến có tính diệt chủng ớ  Rwanda, Sudan, Uganda và chính sách “mua chuộc” những con tế thần của Phi Châu của Trung Hoa để dùng họ trực tiếp gây ra bất ổn trên lục địa như việc tài trợ vũ khí và tiền bạc vào những cuộc chiến “huynh đệ tương tàn” của người Phi Châu.

Mang số phận của một quốc gia nhược tiểu như Việt Nam, những người lãnh đạo quốc gia hiện nay “nghĩ” rằng việc đặt mình dưới sự bảo hộ của Thiên Triều là một việc làm đúng vì tổ tiên chúng ta đã từng làm như vậy để mua lấy sự an bình cho (việc cai trị) tổ quốc.

Cuộc cách mạng thông tin – bắt đầu từ máy fax khi những nhà tranh đấu dân chủ Nga ở hải ngoại dùng nó để “phá vỡ” bức tường sắt thông tin mà chế độ cộng sản Xô Viết đã dày công dựng nên, và sự “giải phóng” internet của Hoa Kỳ từ một bộ phận nghiên cứu của chính phủ sang công cụ tiếp nối thông tin cho toàn thế giới – đã làm cho trái đất thu hẹp lại trên bình diện giao tiếp giữa những quốc gia.  Toàn cầu hoá thương mại qua tổ chức WTO là bước tiến hiển nhiên.

Trong quá khứ, Hoa Kỳ mua “lợi tức hoà bình” (peace dividends) bằng cách dựng nên hay ủng hộ những chế độ độc tài để họ không “xúi dục” dân chúng “xuất khẩu cách mạng” (terrorism export) sang những quốc gia có quan hệ kinh tế mật thiết với Hoa Kỳ.  Pinochet, Saddam Hussein, Mubarack, Ferdinand Marcos,Mohammad Reza Pahlavi, Idi Amin Dada, v.v. đã từng là “đồng minh” của Hoa Kỳ trong việc “giữ gìn an ninh thế giới”…để Hoa Kỳ rộng đường mở mang thị trường.

Từ khi Trung Hoa được cố tổng thống Nixon hứa hẹn sẽ giúp Trung Hoa trớ thành một cường quốc vào năm 1972, những chính phủ tiếp nối của Hoa Kỳ đã nghiêm chỉnh thực hành lời hứa đó, và ngày nay Trung Hoa chỉ đứng sau Hoa Kỳ về tổng sản lượng quốc gia.  Cần phân biệt rõ ràng về nhân sinh quan giữa Hoa Kỳ và những quốc gia theo chủ nghĩa cộng sản hay chủ nghĩa ‘cách mạng dân tộc’.  Mặc dầu trở thành cường quốc số một trên thế giới, nhưng  Hoa Kỳ không lấy đó làm hợm để buộc những quốc gia khác phải trở thành thuộc địa của mình bằng vũ lực như Pháp hay Anh hay Nga hay Trung Hoa đã từng làm.  Trong thời kỳ mở mang bờ cõi vào thế ký 19, Hoa Kỳ thừa sức biến Canada hay Mexico hay Nam, Trung Mỹ trở thành những tiểu bang của họ, nhưng họ đã không “dư” thời gian để lãng phí sinh mạng của dân Mỹ trong những cuộc phiêu lưu chiếm đóng này.  Biến những quốc gia đó thành nơi sản xuất và tiêu thụ hàng hoá là mưu sách khôn ngoan hơn và ít tốn kém hơn về tài sản cũng như sinh mạng.

Hoa Kỳ luôn nhìn về con người như một người tiêu thụ và coi nhân loại như một thị trường đa dạng, và không ngần ngại bỏ nhiều công sức “tạo dựng” khách hàng.  Những quốc gia khác đặt vật chất lên hàng đầu, do đó họ không ngần ngại giết người hàng loạt để chiếm lấy những vùng đất hay biển có nhiều hứa hẹn về khoáng sảng, nông sản, hay lâm sản.  Việc chính phủ Trung Hoa ngang nhiên khoanh vùng Biển Đông bất chấp công ước và luật pháp quốc tế hiện hành nói lên tư duy của một quốc gia chậm tiến khi quyết định dùng sức mạnh để đàn áp đối phương.

Trước khi Trung Hoa khiêu khích dư luận trong vùng Đông Nam Á nỏi riêng và thế giới nói chung qua việc cắt cáp của tàu Bình Minh 02, bộ trưởng quốc phòng Trung Hoa đã sang Hoa Thịnh Đốn “mật đàm” với chính phủ Hoa Kỳ về dự tính thôn tính Biển Đông của mình.  Quốc gia có tiềm năng và truyền thống đối kháng với quyền lợi của Trung Hoa trong hơn 2,000 năm qua là Việt Nam.  Chỉ có khuất phục được Việt Nam thì Trung Hoa mới có thể biến ASEAN trở thành “sân sau” vĩnh viễn của mình.

Vì quyền lợi quốc gia, Hoa Kỳ sẽ chỉ phản đối chiếu lệ như đã từng làm trong biến cố Thiên An Môn, và khi Trung Hoa dùng sức mạnh quân sự để dạy cho Việt Nam một bài học nhớ đời và toàn khối ASEAN lấy đó làm gương thì Hoa Kỳ sẽ bớt được mối lo về sự bất ổn có thể mang lại từ 3 quốc gia với đông số tín đồ Hồi giáo: Mã Lai Á, Nam Dương, và Phi Luật Tân.

Những nhà lãnh đạo cộng sản Việt Nam đã không đặt lợi ích quốc gia lên hàng đầu trong chính sách đối ngoại.  Họ vẫn còn giữ tư duy “cóc ngồi đáy giếng” rằng sự thôn tính miền Nam Việt Nam của họ được thành công là hoàn toàn nhờ vào những “đỉnh cao trí tuệ của loài người” như Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Trường Chinh, v.v., và do đó hành xử trịch thượng với những nhà đầu tư ngoại quốc vì họ nghỉ rằng Việt Nam là quốc gia “duy nhất” có giá trị ngàn vàng với những tiêu chuẩn của một dân tộc đã từng “đánh cho Mỹ cút, Nguỵ nhào”.

Năm 1962, tình báo trung ương Mỹ lẳng lặng để cho Liên Xô thiết lập những giàn phóng đầu đạn nguyên tử tại Cuba, ngay trước “sân nhà” của Mỹ.  Để cứu vãn chế độ ra khỏi sức ép từ trong nước do nền kinh tế quốc gia đang hồi suy sụp, cố tổng thóng Kennedy đã “mật ước” với Khrushchev, cố tổng bí thư cộng đảng Liên Xô, để tạo ra điểm nóng ở Cuba.  Hoa Kỳ đồng ý trao cho Fidel Castro lực lượng giải phóng quốc gia người Cuba ở hải ngoại trong chiến dịch Vịnh Con Heo để đánh đổi lấy việc “di dời” sự bất đồng giừa thế giới tự do (Hoa Kỳ) và thế giới cộng sản (Liên Xô và Trung Hoa) sang Việt Nam, quốc gia mà tổng thống tiền nhiệm Eisenhower đã chọn làm thí điểm cho học thuyết domino khi ông “nhẫn tâm” phớt lờ những lời cầu cứu của đồng minh thời đệ nhị thế chiến của mình là nước Pháp khi bị sa lầy ở Điện Biên Phủ.

Cố tổng thống Eisenhower chỉ thừa hành những việc làm “còn dở dang” của cố tổng thống Roosevelt khi ông “âm mưu” với Stalin lập lại một trật tự thế giới mới sau khi đã “lật nhào” đế quốc Anh ra khỏi “thị trường” thế giới.  Roosevelt đã biết trước dự tính đánh úp Trân Châu Cảng nhưng chọn thái độ im lặng vì ông đã thất bại trong việc thuyết phục dân chúng Mỹ giúp Anh quốc chống lại Hitler.  Chỉ có việc để cho đồng minh của Đức là Nhât Bản tập kích và giết lính Mỹ hàng loạt thì mới có thể khiến cho dân Mỹ cho phép ông tham gia vào cuộc chiến.

Cuộc khủng hoảng kinh tế (1929-1939) tại Mỹ và chính sách an sinh xã hội (New Deal) của Roosevelt đã bị thất bại nặng nề vì đi ngược lại với quy trình tự nhiên của phát triển kinh tế khi chính phủ đóng vai trò quyết định trong việc tạo ra công ăn việc làm cho người dân.  Quy luật phát triển kinh tế cổ điển nhấn mạnh về thị trường tự do nơi cung và cầu sẽ gặp nhau ở một điểm đồng có lợi cho cả hai bên.  Dùng ngân sách chính phủ để tạo ra của cải vât chất đi ngược lại với nguyên lý tự nhiên của cung và cầu, tương tự như đem đồ đạc trong nhà ra đập phá đi, rồi tự bỏ tiển ra mua lại sau khi đã bỏ sức ra để kiến tạo lại những món đồ đó.

Sự suy thoái triền miên về kinh tế đã buộc Roosevelt chọn con đường “song hành” với Stalin để “nuôi dưỡng” những mầm mống chiến tranh như Hitler của Đức, Thiên Hoàng của Nhật, Mussolini của Ý, Franco của Tây Ban Nha thành một liên minh Phát Xít, và qua đó có cớ để xảy ra đệ nhị thế chiến nhằm hất cẳng những quốc gia “cạnh tranh” khác như Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha ra khỏi thị trường kinh doanh.

Khi cố tổng thống Johnson lên kế vị tổng thống Kennedy, hai vấn đề làm ông mất ngủ là sứ suy thoái định kỳ về kinh tế và tham vọng chính trị cá nhân với chiến lược Xã Hội Vĩ Đại (Great Society) mà ông đã ấp ủ trong thời gian Roosevelt còn đương vị.  Như những tổng thống tiền nhiệm đã từng làm mỗi khi nền kinh tế bị suy thoái, Johnson đã quyết định hi sinh 58,000 lính Mỹ tại Việt Nam bằng cách ra những lệnh “phản chiến” như “không được tiến quân ra Bắc Việt Nam” , “không được gửi quân sang Lào hay Campuchia để truy lùng những lực lượng chính quy của quân đội cộng sản Bắc Việt”, “không được dội bom những vùng đông dân cư”, “không được bắn khi quân địch chưa bắn trước” v.v.  Do đó, chiến thắng 30/4/1975 của cộng sản Bắc Việt là một chuyện không thể tránh khỏi.  Hi sinh 58,000 dân Mỹ trên chiến trường Việt Nam là một cái giá thấp để vực lại nền kinh tế Mỹ và tạo công ăn việc làm cho hàng triệu gia đình.

Một điều mà những nhà nghiên cứu sử học hay thắc mắc là tại sao 2 vị cố tổng thống Truman và Eisenhower đã không giúp đỡ Hổ Chí Minh trong việc giành lại độc lập quốc gia từ tay thực dân Pháp.  Nguyên nhân chính là lợi ích quốc gia vì Pháp đã từng là đồng minh của Mỹ trong đệ nhị thế chiến.  Nguyên nhân thật sự mà 2 cố tổng thống Mỹ “không dám dây với hủi Hồ Chí Minh” vì đồng minh chiến lược của Mỹ là Stalin đã ngầm báo cho họ biết Hổ Chí Minh là gián điệp tay sai cho cộng sản quốc tế trong những năm 1920 – 1924 ở Nga trong thời kỳ “khai trí” của y.  Gián điệp của Nga và Trung Hoa đã có nhiều cơ hội thử thách lòng trung thành với cộng sản quốc tế của Hồ Chí Minh khi y không ngần ngại bán Phan Bội Châu cho thực dân để lấy tiền thưởng, và răm rắp nghe lời của cố vấn Trung Hoa trong chính sách Cải Cách Ruộng Đất tàn sát 178,000 lương dân Việt.  Lương tâm tối thiểu của 2 vị cố tổng thống Mỹ không cho phép họ “hợp tác” được với một kẻ lừa thầy phản bạn bán nước như Hổ Chí Minh, mặc dầu cả 2 bên đều muốn hất cẳng Pháp ra khỏi vùng Đông Nam Á vì ý đồ riêng.

Từ 1975 đến 1977, Pol Pot sát hại hơn 1/4 dân số Campuchia theo lệnh của Bắc Kinh.  Hoa Kỳ và thế giới tự do dửng dưng trước tội ác diệt chủng của Pol Pot mặc cho những lời kêu gọi khẩn thiết của những ngưởi tị nạn Campuchia may mắn trốn thoát được sang Thái Lan.  Hoa Kỳ thường tự hào về chính sách bảo vệ nhân quyền của mình trên diễn đàn chính trị thế giới.  Thường tình thì Hoa Kỳ phải bỏ phiếu ủng hộ Việt Nam và chính phủ Hun Sen tại Liên Hiệp Quốc khi đã đánh đuổi Pol Pot ra khỏi Nam Vang, và Hoa Kỳ nên phản đối Trung Hoa trong việc tiếp tục cưu mang tàn quân Pol Pot ở biên giới Thái Lan nhằm kéo dài nỗi thương đau cho dân chúng Lào, Khmer.  Nhưng Hoa Kỳ đã luôn “sát cánh” với Trung Hoa trong việc cô lập hoá Việt Nam và 2 quốc gia “thuộc địa” của Việt Nam là Campuchia và Lào trong suốt những thập niên 70, 80, và 90 của thế kỷ 20.

Hoa Kỳ chỉ bình thường hoá quan hệ với Việt Nam sau khi đã “đoạt lại” thị trường Đông Âu từ tay cựu đồng minh thời đệ nhị thế chiến Stalin.  Cái giá mà Việt Nam phải trả sau khi hoà bình đã vãn hồi vào mùa Xuân năm 1975 quá đắt khi những “đỉnh cao trí tuệ” của đảng cộng sản Việt Nam đặt sứ sống còn của đảng trên sự tồn vong của quốc gia: 15 năm (1975-1989) “chiến tranh tình nguyện” ở Campuchia và Lào, những tinh hoa của đất nước phải gửi xác nơi quê người hay sống sót trở về với những mảnh đới tàn lụi, 20 năm “điên cuồng” đeo đuổi kế hoạch đưa Việt Nam “quá độ” tiến lên chủ nghĩa xã hội đã tạo nên những thế hệ bac nhược về tinh thần lẫn thể chất, sống những cuộc sống vô hồn, vô cảm tính, thụ động, máy móc như những thế hệ đã đi trước bên Nga, Đông Âu, Trung Hoa v.v.

Qua những bài học vể lich sử quốc tế vừa kể trên, liệu những nhà lãnh đạo cộng sản hiện nay có còn giữ vững được lập trường “Việt Nam là cái rốn của vũ trụ” nữa chăng, hay vẫn mặt dày làm những con hể múa rối trước dư luận thế giới ?  Điều mà những nhà lãnh đạo cộng sản Việt Nam cần nhớ là trình độ hiểu biết về “thế thái nhân tình” của dân chúng trên thế giới, đặc biệt tại những quốc gia phát triển, vượt xa tầm hiểu biết của người dân trong nước.  Họ chỉ có thể cảm thương cho số phận của dân chúng Việt Nam khi phải sống trong bóng tối thông tin, và lắc đầu ngán ngẫm mỗi khi nghe cán bộ trong đảng tuyên truyền về “ông thánh” Hồ Chí Minh và những thành tích sát nhân khủng bố đầy tính cách huyền thoại “anh hùng nhân dân” như Nguyễn văn Trỗi, Võ thị Sáu, Lê văn Tám, v.v.  Chỉ có những người cộng sản mới lấy máu và nước mắt của đồng loại làm niềm vui cho cuộc sống.  Ngoài ra, thế giới loài người đều phỉ báng hay lên án những hành vi nhuộm đầy thú tính này.

Thời kỳ bưng bít thông tin đã qua rồi khi Mỹ quyết định “giúp” cho phong trào đấu tranh dân chủ của người Nga ở hải ngoại dùng máy fax để “mở mắt” dân chúng Nga thoát ra khỏi bóng tối văn minh, và giúp họ lấy lại quyền làm người của mình.  Quyết định biến chương trình nghiên cứu của bộ Quốc Phòng Mỹ sang chương trình dân sự của tổng thống George H, Bush là bước tiến tiếp nối trong chiến lược đánh tan “thành trì” của chủ nghĩa cộng sản vào đầu thập kỷ 90 của thế kỷ 20.

Như đã đề cập ở trên, tính “thực dụng” (pragmatism) của người Mỹ rất cao.  Một câu nói mà người Mỹ thường dùng là “What have you done for me lately?”, tạm dịch là “Bạn đã làm được những gì hữu ích cho tôi trong thời gian qua?”.  Một câu nói khác phản ảnh đời sống chịu nhiều áp lực (pressure, stress) của người Mỹ là “Time is money” (thời gian là tiền bạc), và họ thât sự sống với phương châm này.  Viện dẫn 2 câu nói thông dụng trên của người Mỹ để bạn đọc trong nước hiểu vì sao bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ không bao giờ có một “chương trình” (road map, mision statement) “nhất quán” như những quốc gia khác trên thế giới.  Đúng với chỉ tiêu “What have you done for me lately?” từ cử tri Mỹ – nồi cơm của mọi gia đình lúc nào cũng được đong đầy – bộ Ngoại Giao sẽ “tuỳ thời” mà ứng xử, cốt sao là cử tri Mỹ có được công ăn việc làm là bộ Ngoại Giao đã hoàn tất đước sứ mệnh mà tồng thống đã giao phó, cho dù phải hi sinh 4,000 người trong biến cố 9/11/2001.

Vì tính thực dụng sâu sắc đó mà có nhiều công dân Mỹ đã không ngần ngại cống hiến tất cả đời mình cho sự thịnh vượng chung của quốc gia, như việc cưu mang Osama Bin Laden, huấn luyện và đào tạo y thành tên trùm khủng bố với thành tích để đời là việc giết 4,000 dân Mỹ, giúp y “đào thoát” về tới một khu “an ninh” ở Pakistan, và sau khi đã “vắt chanh bỏ vỏ”, giết y để khỏi bị phanh phui về những âm mưu đen tối giữa y và chính phủ Mỹ trong việc cứu nguy nền kinh tế Mỹ và quốc gia Saudi Arabia khỏi bị Iraq hay Iran “nuốt trửng”.  Osama Bin Laden và “người” đã đưa y từ một thanh niên trầm lặng, ít nói thành một tên khủng bố đều đặt lợi ích quốc gia lên trên, cho dù phải bị nguyển rủa cả ngàn năm sau.

Một sơ hở nhỏ của tình báo Mỹ là coi thường về tính cảnh giác của người dân Pakistan vì họ đã “chủ quan” tin rằng người Pakistan cũng có tư duy như người Mỹ về tình láng giềng, như “đèn nhà ai nấy sáng” hay “không can thiệp vào nội bộ của người khác” hay “sự tôn trọng tuyệt đối về tự do cá nhân” v.v.

Khi có quá nhiều thời gian trong ngày để tiêu khiển, lẽ dĩ nhiên chuyện một gia đình xa lạ dọn đến một căn biệt thự trị giá trên 1 triệu đô-la, trong một xã hội nghèo đói như Pakistan khi tiền lương bình quân đầu người ít hơn 1 đô-la 1 ngày lẽ dĩ nhiên sẽ không tránh khỏi sự dị nghị và tò mò của những người láng giềng Pakistan.  Osama đã sống trong căn biệt thự này nhiều năm liền mà không bị những người láng giềng Pakistan phát hiện chỉ có thể xảy ra trong đầu óc tưởng tượng của một người Mỹ chưa từng bao giờ sống lâu ở Pakistan.  Chỉ cần 1,000 đô-la là Osama có thể khiến một người trở thành “bom người” để reo giắc kinh hoàng.  Vậy mà những người láng giềng của Osama đã “thờ ơ” trước món tiền thưởng 50 triệu đô-la của chính phủ Mỹ cho những ai có thông tin về y.  Nói về nghèo, người dân Pakistan còn nghèo hơn người dân Việt Nam do những người cầm quyền đã bị Mỹ và Trung Hoa mua chuộc.  Số hiện kim ít ỏi kiếm được đều lọt vào hầu bao của giai cấp cầm quyền hay nuôi sống quân đội và sản xuất vũ khí nguyên tử.

Anh Quốc không ở vị trí tương đồng với Roosevelt hay Stalin khi họp mặt ỏ thượng đỉnh Yalta khi chiến thắng đệ nhị thế chiến đã nằm trong tầm tay của quân đội đồng minh vì Anh Quốc ở trong vị thế của kẻ bị Hitler xâm lược và cần đến sự giúp đỡ của Mỹ.  Để khỏi bị Hitler xâm lăng và biến Anh Quốc thành chư hầu như Pháp, Bỉ, Tiệp Khắc, v.v., Anh Quốc đã “phải” chấp thuận cho những quốc gia thuộc địa như Ấn Độ, Mã Lai Á, Bắc Phi, Trung Đông v.v. được lấy lại quyền tự quyết.  Do đó mà Gandhi đã giành lại được độc lập cho quốc gia mình một cách ngẫu nhiên và dễ dàng qua hình thức đấu tranh bất bạo động.  Chuyện không thể nào xảy ra với đế quốc Anh thời kỳ còn “làm mưa, làm gió” trên quả địa cầu.  Nhưng Anh Quốc đã không hoàn toàn an tâm với ý định trao trả nguyên vẹn những quốc gia có “tính cách chiến lược” về thị trường kinh doanh toàn cầu trong tương lai.  Do đó mà Ấn Độ bị chia cắt ra thành Ấn Độ, Pakistan, Tích Lan, Bangladesh.  Dùng chính sách “chia để trị” nhằm phân hoá nội lực của đối thủ cạnh tranh trên thương trường của Mỹ tử thời lập quốc (khi họ tàn sát những bộ tộc da đỏ đã sống tại châu Mỹ từ hàng ngàn năm trước), và Anh Quốc đã áp dụng kế sách này đối với chủng tộc Ấn, Ả Rập, và da đen tại châu Phi cũng như da vàng tại châu Á.  Nhu cầu về sản xuất trong tương lai của Mỹ (năm 1945) không cho phép Anh Quốc chia cắt Trung Hoa như dự tính, mà phải để nguyên vẹn.

Một điều mà cả 3 quốc gia Nga, Mỹ, và Anh đều đồng ý là để cho Mỹ thống lãnh trong nhiệm vụ điều hành trái đất.  Nước Nga luôn bị xâm lấn bởi những quốc gia láng giềng như Pháp từ phương Tây và Trung Hoa từ phương Đông.  Stalin rất “nhớ ơn” Mỹ đã không tiêu diệt cách mạng vô sản tháng 10 năm 1917 từ trong trứng nước khi những lãnh tụ Bolchevik không ngừng đòi “treo cổ” tư bản Mỹ, Mỹ đã “nhắm mắt làm ngơ” trước tội ác diệt chủng (hàng chục triệu người đã bị Stalin thảm sát trong thập niên 30 và 40 của thế kỷ 20), đã không “về hùa” với Hitler thôn tính Nga.  Chỉ nội 3 cái ơn đó mà Stalin không “mặc cả” mạnh mẽ lắm mặc dầu chịu thương vong cao nhất trong việc đánh bại Hitler khi Mỹ “chia” cho Nga những vùng đất kém màu mỡ như Ba Lan, Hungary, Romania, v.v.

Từ sau đệ nhị thế chiến, sự thân thiết của Anh Quốc với Hoa Kỳ tương tự như tình cảm của một cặp song sinh.  Nơi nào lợi ich quốc gia của Mỹ bị đe doạ, Anh Quốc luôn là quốc gia đầu tiên ủng hộ Mỹ, và ngược lại.  Canada, Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan thường “bỏ phiếu” theo Anh Quốc vì “thần dân” của những quốc gia này đều có nguồn gốc từ Anh Quốc.  Sự liên hiệp của những quốc gia (nói tiếng Anh) này dạy cho những người lãnh đạo cộng sản Việt Nam hiện nay nên từ bỏ tư duy “đu dây ngoại giao” khi nghỉ rằng Việt Nam “xuân sắc mặn mà” (hidden charm) với những đức tính kiên nhẫn, cần cù, chịu đựng giỏi, thông minh tài trí hơn người sẽ là người bạn đồng hành đáng tin tưởng trên thương trường thế giới.

Để tạo bộ mặt dân chủ và trung thành với ý đồ giúp các quốc gia đang phát triển có cơ hội vươn lên, Hoa Kỳ sẽ đóng vai “ông Thiện” với sự ra đời của những tổ chức chuyên về bảo vệ nhân quyền như Ân Xá Quốc Tế (bên Anh), Theo Dõi Nhân Quyền (bên Mỹ) và quốc gia chính trong vai “ông Ác” sẽ là Liên Xô và khối Đông Âu.  Những quốc gia có chế độ độc tài như Cuba, Triều Tiên, Trung Hoa, Việt Nam v.v. cũng nằm trong danh sách của “ông Ác”.  Lãnh đạo của 2 khối Thiện và Ác không quan tâm đến “dư luận” thế giới về những hành vi phi nhân của họ đối với những quốc gia khác trong sứ mạng bảo vệ quốc gia và đem lại ấm no cho dân của họ.

Để “hối lộ” cho những quốc gia có manh nha xuất khẩu “cách mạng dân tộc hay khủng bố” sang những quốc gia “khách hàng” của mình, Hoa Kỳ thành lập những ngân hàng phát triển như World Bank, International Monetary Fund, và sau này thêm Asia Development Bank của Nhật Bản nhằm mục đích giữ gìn và bảo vệ thị trường của mình.

Sự thâm độc của những ngân hàng phát triển này là tạo cho lãnh đạo của những quốc gia đang phát triển mắc phải cơn bệnh ghiền vay nợ, biến họ từ những người “có công” giành độc lập từ tay đế quốc như Anh, Pháp thành những người suốt ngày chỉ nghĩ đến cách thống trị lâu dài dân tộc của họ để có điều kiện bòn rút những món tiền kếch sù dành cho “phát triển quốc gia”.  Muốn tự do tham nhũng thì phải “mạnh tay” đàn áp những tiếng nói đối lập.  Hơn nữa, số tiền “ăn xin” hàng năm cũng có giới hạn, không thể chia đều cho tất cả mọi người được.  Do đó mà những chế độ sống nhờ vào tiền nợ và tiền ăn xin không muốn có Hiến Pháp minh bạch với tam quyền phân lập.

Ngu dân hoá và bần cùng hoá người dân là 2 sự lựa chọn cần thiết cho những chế độ độc tài.  Khi biến người dân thành những con cừu “tham sống, sợ chết”, những chế độ độc tài đã làm tròn sứ mệnh “thuộc địa hoá” của mình.  Hoa Kỳ và Nga là 2 quốc gia rộng lớn với tài nguyên phong phú, nhưng những quốc gia này lại “để dành đó” cho những thế hệ tương lai khi đã sử dụng hết tài nguyên của những nước đang phát triển.  Do đó, khi những nhà đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền của những quốc gia “khách hàng” lên tiếng phản đối về sự cướp bóc và nhũng lạm tài nguyên quốc gia của chính quyền, những tổ chức bảo vệ nhân quyền thế giới vừa nêu trên sẽ “đánh trống la làng” phụ hoạ, thâm chí lên án những chế độ độc tài khi sử dụng vũ lực để đàn áp hay giam cầm phe đối lập với những bản án dài hạn.

Vì không có thực quyền nên những tổ chức bảo vệ nhân quyền đành thúc thủ trước những vi phạm trắng trợn về nhân quyền của chế độ đối với người dân bị một thiểu số nghiện ngập tiền vay nợ và tiền ăn xin khống chế.  Nhân loại chỉ có một trái đất để sống, và dân số ngày càng tăng đúng theo ước nguyện của những quốc gia phát triển như Anh, Đức, Pháp, Mỹ v.v.

Như đã đề cập ở trên, chủ nghĩa tư bản hiện đại (modified capitalism) mà Hoa Kỳ là quốc gia chủ xướng có “bộ mặt” nhân bản giả hiệu với những tổ chức “hối lộ” cho những chế độ độc tài như IMF, ADB, World Bank, và những tổ chức “ru ngủ” tiếng nói nhân quyền như Amnesty International, Reporters Without Borders, Human Rights Watch  nhằm tự do bóc lột sức lao động của người dân bản xứ và huỷ hoại môi trường sống của họ với sự thiết lập những nhà máy khai thác khoáng sản với trình độ kỹ thuật cũ kỹ nhằm mục đích giữ giá thành sản xuất thấp, và sự hợp tác của chính quyền trong việc “nhắm mắt làm ngơ” cho những nhà máy này được tư do sa thải những chất độc ra môi trường.

Khi gửi con đi du học ở nước ngoài, ban lãnh đạo ĐCSVN nghĩ rằng con cái họ sẽ thoát được cái vòng kim cô vể cuộc sống 2 mặt, đạo đức giả do chính họ tạo nên ?  Tôn ti trật tự trong gia đình, học đường không còn được học sinh, sinh viên tôn trọng nữa kể từ khi ĐCSVN quyết tâm xây dựng nên những con người mới Xã Hội Chủ Nghĩa.  Bạo lực hoc đường diễn ra hàng ngày, và chuyện “ăn cơm trước kẻng” cũng như phát tán những đoạn phim này lên internet làm thành tích cho nhau giữa học sinh với nhau.  Khi về nhà, học sinh sẽ không khỏi thắc mắc trong đầu khi biết tiền lương “quan chức” của cha mẹ không đủ để trang trải cuộc sống hàng ngày thì lấy đâu ra tiền để sắm xe hơi, nhà lầu, biệt thự.  Lẽ dĩ nhiên những lời khuyên “sống và noi gương cần kiệm liêm chính của bác Hồ” của cha mẹ và thầy cô sẽ bị bỏ ngoài tai, và hậu quả không tránh khỏi được là nhứng thế hệ chủ nhân tương lai của Việt Nam sẽ ra đời với hành trình vô văn hoá (mở miệng ra thì toàn những câu chửi thề tục tĩu) trong giao tiếp hàng ngày, tư duy ăn cắp vặt từ những tấm gương tiến sĩ giả, vòi tiền học “bổ túc” của thầy cô, nhận hối lộ của cha mẹ, v.v.

Vì lợi ích bè phái mà ĐCSVN đã phạm phải 1 trong những tội ác lớn nhất đối với dân tộc Việt Nam khi lãng phí 4 thế hệ trong mái trường xã hội chủ nghĩa: biến công dân Việt thành những con cừu cho bầy chó sói ngoại bang, và phá huỷ nền văn hoá mà tổ tiên đã dày công tạo dựng nên.

Bài viết đến đây tạm kết thúc và sẽ mượn lời của “hiền dân” tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ khi ông đóng vai “ngự sử” của Nguyễn Trường Tộ gióng lên tiếng nói can ngăn ban lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam ngưng làm chuyện ác với dân mình, đặt quyền lợi quốc gia lên trên sự tồn vong của đảng, cải tổ Hiến Pháp, bảo đảm quyền làm người của người dân , khuyến khích hiền tài từ hải ngoại về xây dựng lại quê hương, tiêu diệt tàn dư hệ thống giáo dục từ chương của thực dân Pháp và Trung Hoa, và thay vào đó hệ thống giáo dục có phản biện, tìm tòi nghiên cứu về chân lý để đào tạo những thế hệ thật sự là chủ nhân của Việt Nam, chứ không phải chỉ biết cúi đầu nhận lệnh từ những thế lực làm tay sai cho ngoại bang như đảng cộng sản đã từng làm trong suốt 36 năm qua.

Chỉ khi nào người dân Việt Nam được tự chủ trong cuộc sống hàng ngày thì Việt Nam mới có cơ hội vươn ra khỏi bóng tre rậm rạp của Bắc Kinh, và lãnh đạo ĐCSVN có thể bắt đầu bằng một văn bản tự bạch trước nhân dân về những hành vi phá hoại đất nước, tiêu diệt giống nòi có hệ thống của ĐCSVN kể từ khi Hồ Chí Minh du nhập chủ nghĩa cộng sản vào Việt Nam.  Người Việt Nam nổi tiếng thế giới về lòng vị tha, và họ sẽ tha thứ cho những người con “lầm đường lạc lối”, chỉ vì tư lợi cá nhân và bè phái tức thời mà đã góp sức đắc lực cho ngoại bang trong việc kềm hãm dân tộc Việt trong suốt 65 năm qua.

Việc kế tiếp mà lãnh tụ ĐCSVN cần làm là giải tán Bộ Công An, và trong Hiến Pháp phải quy định rõ ràng là không được thành lập Bộ Công An dưới bất cứ hình thức hay nguỵ biện nào của chính quyền đương thời.  Hãy trao quyền trị an lại cho người dân.  Qua lá phiếu, người dân sẽ biết bầu ai lên để giúp đỡ họ trong việc trị an hàng ngày.  Một chính quyền thật sự cho dân bầu lên (người dân là chủ nhân, góp tiền lại để mướn người làm, trong trường hợp này là cảnh sát hay công an) không bao giờ cần có sự giúp sức của Bộ Công An để tự đàn áp chính mình.  Bộ Công An là tàn dư của những chế độ độc tài, phong kiên, thực dân khi họ mượn sức của người dân bản xứ đàn áp, giết chóc lẫn nhau.

Quân đội phát xuất từ nhân dân, và nhiệm vụ chính và duy nhất của quân đội là bảo vệ biên cương, chống lại ngoại xâm.  Hiến Pháp phải quy định rõ ràng về sứ mệnh của quân đội, nhất là không được dùng súng ống để giết dân như những chế độ độc tài đã từng làm.  Khi tuyên bố giải quyết mâu thuẫn quốc gia bằng lý trí và ôn hoà bất bạo động, Việt Nam sẽ chứng tỏ cho thế giới biết về lập trường yêu chuộng hoà bình của mình.  Đối nội cũng vậy, pháp luật cần kiên quyết nghiêm trị những ai dùng vũ lực hay bạo động để giải quyết bất đồng hay mâu thuẫn với người khác, nhằm hướng mọi người đến cuộc sống văn minh hơn.

Đối với những người cộng sản “cấp tiến” nhưng vẫn lo sợ về một sự tắm máu có thể xảy ra khi ĐCSVN nhường quyền lãnh đạo đất nước lại cho 1 hay nhiều đảng phái khác.  Đừng nên tự kỷ ám thị và suy bụng ta ra bụng người.  Người Việt chính thống không bao giờ lấy việc giết người cùng giống nòi làm phương châm như người cộng sản vô tổ quốc đã từng làm.  Người Việt chính thống sẽ không đối xử hèn hạ như Gia Long Nguyễn Ánh khi y vì tư thù mà rước voi về dày mã tổ (thực dân Pháp) đối với gia đình và thể xác của vua Quang Trung sau khi đã tạ thế.  Người Việt chính thống sẽ không đày ải những người cộng sản đi khu kinh tế mới hay lùa vào những trại tập trung trong mưu đồ giết lần giết mòn những người cộng sản đã từng một thời tạo nên biết bao tang tóc đau thương cho “đồng bào” của mình.  Ngược lại với những dự đoán sai lầm của người cộng sản, người Việt sẽ mở rộng tấm lòng khoan dung chào đón những người con Việt đã từng một thời lầm đường lạc lối theo gót ngoại bang này.

Đừng lo sợ về nguy cơ đa đảng sẽ dẫn đến nội loạn như Thái Lan vì nền dân chủ Thái Lan chỉ được thực hiện nửa vời.  Quyền làm chủ đất nước (thông qua phổ thông đầu phiếu) không được trao cho dân.  Đây chỉ là chế độ quân phiệt dưới dạng dân sự với  cravate và bộ đồ veste.  Người dân Thái Lan biểu tình vì chính phủ bất công, tham nhũng, bè phái v.v.  Nếu chính phủ trong tương lai do dân bầu lên với một bản Hiến Pháp minh bạch như Hiến Pháp Hoa Kỳ, và chính phủ phải đặt mình dưới sự kiểm soát của dân thì lấy đâu ra lý do cho dân đi biểu tình chống lại chính phủ mà mình đã bầu lên.

Điều chắc chắn có thể xảy ra là nhứng tiền bạc, tài sản ăn cắp trong thời gian ĐCSVN còn cầm quyền sẽ bị trưng thu và trả lại cho ngân khố quốc gia.  Người tài ở hải ngoại không hiếm, và có mặt trong mọi lãnh vưc chuyên môn, kể cá “công an kiểm (soát vể tài) chính”.  Nên nhớ Hoa Kỳ “nắm giữ” mọi hoạt động về tài chính trên thế giới, và chính phủ Hoa Kỳ luôn dùng sự hiểu biết đó để khống chế những quốc gia khác, và lẽ dĩ nhiên những người ký thác tiền bạc và tài sản ở những ngân hàng “an toàn về bảo mật danh tính khách hàng” Thuỵ Sĩ cũng không thoát khỏi tầm ngắm của những nhân viên kiểm chính Hoa Kỳ.  Tất cả những quốc gia trên thế giới đều dùng tiền tệ hiếm như đồng Euro, Dollar trong việc thanh toán với nhau về giao thương.  Do đó những ngân hàng quốc tế phải tôn trọng “luật chơi” do Mỹ để ra: họ phải viết những báo cáo về những nguồn tiền mà xuất xứ không minh định được, chẳng hạn như thủ tướng Việt Nam hay thân nhân không thể nào ký quỹ với số tiền hàng triệu hay tỷ dollars được khi đồng lương hàng tháng chỉ vỏn vẹn vài trăm dollars.

“Lưới trời lồng lộng, tuy thưa nhưng khó thoát”.  Cho dầu những nhân viên kiểm chính Hoa Kỳ và thế giới bất lực trong việc giúp chính phủ Việt Nam thời hậu cộng sản truy lùng những tài sản mà ĐCSVN đã ăn cắp trong thời gian còn tại vì, thì ĐCSVN cũng không thể nào trốn khỏi sự truy lùng của người dân trong nước, và dân chúng trên thế giới.  Để giúp truy lùng tài sản đã thất thoát, 20% giá trị của tài sản thu hồi được sẽ về tay “người” đã có công khai báo nơi ĐCSVN che dấu tài sản.  Nói vậy để ban lãnh đạo ĐCSVN an tâm, và đừng trông chờ vào Bắc Kinh trong việc tẩu tán tài sản đã cướp được.  Bắc Kinh không thể vì mối lợi vài tỷ đô-la ăn cắp của ĐCSVN mà chịu sự khinh bỉ “không thèm chơi nữa với đầu nậu rửa tiền Trung Hoa” của thế giới.

Mặc cho Phan Văn Khải hay Nguyễn Văn Triết “phồng mang trợn mắt” thề non hẹn biển với mình về một Việt Nam “Đổi Mới”, cựu tổng thống Clinton và Bush đã không mắc mưu của 2 tay cộng sản khôn vặt này (trưởng thành trong chiến tranh dùng người Việt giết người Việt).  Như đã đề cập ở trên, người Mỹ có ý thức thực dụng rất cao vì cuộc sống luôn ám ảnh bởi câu phương châm “Bạn đã LÀM đước việc gì hữu ích cho tôi rồi trong thời gian qua?” và câu “Hãy để hành động thiết thực của bạn chứng minh cho lời nói” (Action speaks louder than words, Talk is cheap, Time is money & don’t waste my time on cheap talk).  Chính phủ Mỹ cần nhìn thấy những hành động cụ thể như không bang giao với Trung Hoa dưới mọi hình thức trong ít nhất là 1,000 năm tới, và khẳng định trong bản Hiến Pháp mới.  Bất cứ ai bị bắt về tội liên hệ với Bắc Kinh sẽ bị xử theo tội phản quốc.  Chứng minh hùng hồn như vậy thì chắc chắn chính phủ Mỹ sẽ “thấu hiểu” tấm lòng thành của Việt Nam, và sẽ có “đôi điều phân trần phải trái” với đồng minh đối tác Trung Hoa.

Việc mà những cựu tổng thống Mỹ như Carter, Reagan, Bush cha và con, Clinton đều chờ đợi từ ĐCSVN trong việc nối lại quan hệ giữa 2 quốc gia là sự thành tâm (trong việc chọn Hoa Kỳ làm minh chủ), và hành động của những nhà lãnh đạo ĐCSVN từ năm 1975 đến nay vẫn không thay đổi khi họ luôn giứ thái độ thù địch hay nghi kỵ  đối với Hoa Kỳ.  Những người lãnh đạo Mỹ không thù dai hay thù vặt như người cộng sản Việt Nam vì họ luôn hướng về tương lai để xây dựng quốc gia.  Tuy ngoài mặt ĐCSVN luôn tuyên bố “hãy bỏ qua quá khứ, và cùng nhau hướng đến tương lai”, nhưng chỉ có nạn nhân trong cuộc chiến là binh sĩ và dân chúng 2 miền Nam-Bắc mới thật sự bỏ qua quá khứ.

Cần sự giúp đỡ của Mỹ mà lại “đi đêm” với cạnh tranh chính của Mỹ là Trung Hoa là một điều không thể chấp nhận được với các chính phủ Hoa Kỳ.  Khi người Mỹ chứng kiến cảnh “khách” lao động Trung Hoa cầm gậy gộc rượt đuổi và đánh đập người dân Việt ở Nghi Sơn, Thanh Hoá, và không coi chính quyển và luật pháp sở tại ra gì, điều này chứng minh một cách hùng hồn về sự coi trọng “khách Trung Hoa” hơn dân Việt Nam của chính quyền Hà Nội.

Chính phủ đứng ra bảo lãnh cho công ty quốc doanh Vinashin mượn 600 triệu dollars.  Mới đến kỳ đáo hạn đầu tiên đã tuyên bố…”xù nợ”.  Coi tiền thiên hạ như tiền của Việt Kiều gửi về.  Cung cách làm ăn chụp giựt như vậy thì chỉ gạt được người ta lần đầu thôi.  Thể diện quốc gia không bằng miếng giẻ rách.

Rồi lệnh cấm giao dịch bằng đô-la và vàng miếng, trong khi báo chí nước ngoài khui tin “quan chức” ĐCSVN đã tuồn qua Thuỵ Sĩ 2.5 tỷ rưỡi đô-la vàng.  Tháng rồi báo chí trong nước thông báo chính phủ đã “mua” lại được 1 tỷ đô-la từ dân chúng trong nước.  Đem tiền VND (tiền giả) ra đổi lấy USD (tiền có giá trị) – cướp bóc công khai như vậy mà người dân trong nước không dám ta thán.  Hoành hành bá đạo như vậy mà còn than khóc vì sao mức độ FDI giảm.  Người đầu tư trên thế giới đâu có sống dưới ách cai trị hà khắc của thái thú Tàu, mà bắt họ phải tự nguyện đem tiền của họ đưa cho ĐCSVN xài chứ.

Đây chỉ mới nói đến dùng quyền lực thô bạo cướp tiền của dân, và lời hứa của văn phòng Thủ Tướng để gạt dân nước khác 600 triệu đô-la, chứ chưa nói đến “ăn vụng” tín chỉ của con cháu.  Trong tương lai khi con cháu nối nghiệp, cần tiền để kiến thiết đất nước, không lẽ chúng lại ra lệnh mua hiếm kim với cái máy in tiền ?

Hành xử còn tệ hơn xã hội đen như vậy, mà còn bắt thiên hạ trên thế giới phải phục tài ăn cắp và ăn cướp của mình nữa chứ.  Lãnh đạo ĐCSVN còn biết đến thế nào là “mối nhục quốc thể” chăng, hay vẫn còn xem lời trần tình về nỗi nhục nhã của bản thân khi trình sổ thông hành Việt Nam cho hải quan quốc tế của cựu tổng giám mục Ngô Quang Kiệt là một lời sỉ nhục chế độ ?

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nghĩ sao khi chính phủ gửi con trai của mình sang Libya làm cu-li, và gửi con gái của thủ tướng sang Đài Loan làm “dâu xứ người” ?  Tại sao con cái của Thủ Tướng thì được trân quý, ăn học đến nơi đến chốn, nhà cao cửa rộng,  và con cái của dân thì lại xem như 1 món đồ để trao đổi với những tên ma-cô khác trên thế giới ?

Những việc làm tồi bại trên của ĐCSVN không thoát khỏi ánh mắt quan tâm đến số phận dân Việt của khối người Việt hải ngoại và dư luận thế giới.  Ác với dân như vậy mà dân vẫn tha thứ nếu sớm thoát ra khỏi vùng ảnh hưởng của Bắc Kinh, và “đồng hành” với Mỹ để tự cứu mình và Việt Nam ra khỏi sự kềm kẹp của Hán tộc.  Theo sự tiên đoán của IMF thì vào năm 2016, Trung Hoa sẽ qua mặt Mỹ với tống sản lượng quốc gia 19 triệu tỷ đô-la.  Đó chỉ là dự kiến về “nội lực” kinh tế giữa 2 nước, nó không nói lên những tiến bộ về kỹ thuật, và nếp sống văn minh mà Trung Hoa còn phải bỏ ra hàng chục năm mới có hi vọng bắt kịp với Mỹ.  Chuyện không bao giờ xảy ra khi chính phủ không cho phép dân chúng được tự do suy nghĩ, tự do mưu cầu hạnh phúc cá nhân.  Chỉ khi nào những quyền tự do căn bản được trao trả lại cho người dân như tự do tư tưởng thì lúc đó mới có một chút hi vọng bám đuôi Hoa Kỳ trong việc tìm tòi phát minh những đồ vật để nâng cao đời sống.  Suy xét theo hiện tình thì Trung Hoa sẽ còn là trung tâm sản xuất hàng hoá cho thế giới trong một thời gian dài…khi Hoa Kỳ chưa có ý định “khoá xổ” Trung Hoa, 1 việc làm thường tình của Mỹ.

Ban lãnh đạo ĐCSVN nên tiếp thu bài học vể cách ứng xử của Hoa Kỳ với những đối tượng cạnh tranh mà mau chóng giải thể ĐCSVN, trao quyền làm chủ đất nước lại cho dân Việt, và quay về sống trong vòng tay khoan dung của đồng bào vì không ai thương mình hơn nòi giống của mình.  Người Hán luôn muốn huỷ diệt người Việt – 1000 năm trước và 1000 năm sau, chân lý này sẽ không bao giờ thay đổi.

“Con thú chết để da, con người chết để tiếng”.  Mong ban lãnh đạo nghĩ đến tương lai con cháu mà mau hồi tâm cải tà quy chánh trở về dưới mái ấm tình thương dân tộc!

***

Thứ Hai, 26 tháng 7 2010 – Các hành vi quân sự của Trung Quốc ở biển Đông ngày một gia tăng, tàu chiến Cheonan của Hàn Quốc bị Bắc Triều Tiên đánh chìm một cách vô cớ… đang biến Đông Á thành khu vực nổi sóng. Vậy thì Việt nam phải làm gì? Sau đây là một số nhận định của Tiến sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ từ Hà Nội dành cho VOA nhân dịp Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) vừa chấm dứt tại Hà Nội.

VOA: Thưa Tiến sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ, với tư cách một nhà tranh đấu có tầm nhìn chiến lược hàng đầu trong công cuộc bảo vệ độc lập và chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam, ông có thể chia xẻ cảm nhận của cá nhân về những gì đang xảy ra liên quan đến an ninh của các nước ASEAN nói riêng, khu vực Đông Á nói chung?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Phải nói ngay rằng, bước sang thế kỷ 21, an ninh thế giới đã chuyển trọng tâm từ châu Âu sang Đông Á.

Một cách khái quát, an ninh thế giới từ sau Chiến tranh thế giới II được mặc định bởi nỗ lực ngăn chặn chiến tranh nóng mang tính hủy diệt hàng loạt giữa các nước phương Tây và khối cộng sản Đông Âu do Liên Xô đứng đầu và nỗ lực này đã thành công với sự sụp đổ ngoạn mục và được báo trước của khối cộng sản trên lục địa cũ vào cuối những năm 80 của thế kỷ 20.

Ngày nay bất an thế giới lại đến từ Đông Á, hay chính xác hơn, từ Trung Hoa cộng sản.

Thực vậy, chủ nghĩa cộng sản Trung Quốc “hậu Đông Âu” đang biến tướng thành chủ nghĩa đế quốc cổ điển hay chủ nghĩa Tân Đại Hán với đặc trưng là bành trướng lãnh thổ.

VOA: Dựa vào đâu Tiến sĩ cho rằng chủ nghĩa cộng sản Trung Quốc đang biến tướng?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Ở Đông Nam Á, như tôi đã từng đề cập, Trung Quốc đã và đang thực hiện xâm lược cả “cứng” lẫn “mềm”. “Xâm lược cứng” là dùng sức mạnh quân sự để thôn tính như Trung Quốc đã làm đối với quần đảo Hoàng Sa vào năm 1974 và đang làm đối với quần đảo Trường Sa của Việt Nam. “Xâm lược mềm” là di dân cùng các dự án kinh tế có thời hạn hàng chục năm đến 99 năm ký với các nước “con mồi’ như cựu bán đảo Đông Dương và Miến Điện.

Ở Đông Bắc Á, Trung Quốc đang thực hiện “xâm lược mềm” đối với Bắc Triều Tiên bằng cách làm cho chế độ Bình Nhưỡng phụ thuộc vào họ đến độ dứt ra là “tắc tử”. Nói cách khác, Bắc Kinh đang thực hiện một cái chết từ từ đối với Bắc Triều Tiên để thời cơ đến sẽ sáp nhập vào Trung Quốc, biến nước này thành một “Nội Triều” theo hình mẫu “Nội Mông”.

VOA: Nếu kịch bản “Nội Triều” là có thật thì nó sẽ xảy ra khi nào, thưa Tiến sĩ?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Theo tôi là vào giai đoạn “hậu Kim Chính Nhật” bởi lớp cháu nội của Kim Nhật Thành chắc chắn sẽ không đủ sức và nhất là không đủ bản lĩnh để cưỡng lại sự thôn tính của Bắc Kinh được chuẩn bị một cách công phu và cực kỳ thâm hiểm như đã phân tích.

Vả lại ở giai đoạn đó nếu Trung Quốc không “ra tay” trước thì một Bắc Triều Tiên kiệt quệ cả về kinh tế lẫn chính trị tất bị hút vào một Nam Triều Tiên thịnh vượng chẳng khác gì số phận của Đông Đức khi bức tường Berlin bị phá dỡ cách nay hai thập kỷ.

Để nói kịch bản “Nội Triều” tất yếu xảy ra nhưng Trung Quốc có thực hiện được chót lọt kịch bản này hay không lại là chuyện khác.

Ở Việt Nam phong kiến có câu: “Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời” nên thêm một lý do nữa để tôi tin lớp kế ngôi Kim Chính Nhật không thể nào giữ được Bắc Triều Tiên như “lãnh địa” của họ Kim và tôi cũng tin rằng không chóng thì chầy hai miền Nam – Bắc Triều Tiên sẽ xum họp một nhà, tức bán đảo này sẽ được thống nhất một cách hòa bình như đã diễn ra với nước Đức.

VOA: Thưa Tiến sĩ, ông có quá chủ quan không khi chếđộ Bình Nhưỡng luôn khoe sở hữu vũ khí hạt nhân và sẵn sàng gây chiến tranh, như đã thể hiện bằng việc dùng ngư lôi đánh đắm tàu chiến Cheonan của Hàn Quốc vào tháng ba vừa qua, theo kết luận của một điều tra quốc tế do Hàn Quốc đứng đầu; và mới đây còn dọa sẽ mở “thánh chiến” với Mỹ và Hàn Quốc?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Tôi cho rằng vũ khí hạt nhân nếu có chỉ đáng gờm khi còn nằm trong tay thế hệ “chiến tranh lạnh” như Kim Chính Nhật.

Về vụ tàu chiến Cheonan của Hàn Quốc bị bắn chìm thì không nghi ngờ gì nữa, đó là một thách thức cực kỳ nghiêm trọng không chỉ đối với an ninh Đông Bắc Á mà đối với an ninh thế giới nói chung bởi nó diễn ra một cách vô cớ, không trong bối cảnh có xung đột quân sự công khai.

Chính vì tính chất siêu nghiêm trọng của vụ việc nên việc điều tra phải khách quan nhất có thể.

VOA: Ý ông muốn nói là cuộc điều tra do quốc tế tiến hành vẫn chưa được khách quan?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Đúng vậy. Chưa kể tính khách quan khó có thể đứng vững khi Hàn Quốc là nạn nhân lại lãnh đạo nhóm điều tra thì một trong những nguyên tắc giải quyết vụ việc hình sự dù quốc nội hay quốc tế là không được làm oan người vô tội bằng cách tìm cho hết chứng cứ gỡ tội chứ không được nhăm nhăm tìm chứng cứ buộc tội đương sự như nhóm điều tra quốc tế vụ Cheonan đã làm đối với Bắc Triều Tiên cho đến thời điểm này.

Cụ thể là nhóm điều tra quốc tế, tất nhiên không phải do Hàn Quốc lãnh đạo, phải mời Bắc Triều Tiên cùng điều tra theo một trong hai phương thức: hoặc là ngay từ đầu khi lập nhóm điều tra quốc tế, hoặc là sau khi nhóm điều tra quốc tế đã có kết luận sơ bộ về vụ Cheonan, cốt để nước này phản bác bằng cách đưa ra những chứng cứ chứng minh họ không dính líu. Rồi trên cơ sở xem xét một cách nghiêm túc mọi chứng cứ cả buộc tội lẫn gỡ tội cho Bình Nhưỡng nhóm điều tra quốc tế mới có thể đưa ra kết luận về vụ này.

Trong trường hợp kết luận điều tra xác định Bắc Triều Tiên là thủ phạm đánh chìm tàu chiến Cheonan mà nước này vẫn không chịu thì kết luận này vẫn được đệ trình Hội đồng bảo an Liên Hiệp Quốc xem xét kèm bảo lưu phản bác của nước này. Tiếp đó nếu Hội đồng bảo an đồng ý với kết luận điều tra mà ra nghị quyết xử lý Bắc Triều Tiên theo công pháp quốc tế thì cũng không mang tiếng là áp đặt và nếu thành viên nào phản đối thì đó sẽ là hành vi “lạy ông tôi ở bụi này”, tự bộc lộ mình là đồng phạm.

Do đó việc Bắc Triều Tiên đề nghị tham gia điều tra là một cơ hội trời cho để có được một cuộc điều tra công bằng dẫn đến một kêt luận công bằng. Thành thử việc Hàn Quốc bác bỏ đề nghị theo tôi là thiện chí này không những đẩy việc giải quyết vụ việc vào thế bế tắc mà nguy hiểm hơn, gia tăng sự đối đầu của Bình Nhưỡng đến mức không ai có thể kiểm soát.

Tóm lại, bằng mọi giá Hội đồng bảo an phải vạch ra được thủ phạm đánh chìm tàu Cheonan không chỉ để trừng trị theo công pháp quốc tế mà còn để phòng ngừa một cách có hiệu quả những vụ tương tự có thể xảy ra trong tương lai. Còn nếu tổ chức quyền lực nhất thế giới này không làm được như vậy thì điều này sẽ tạo ra tiền lệ xấu, vô cùng nguy hiểm ngay cả và trước hết đối với Bắc Triều Tiên. Thực vậy, nước này làm sao có thể kêu ai nếu tàu chiến của họ cũng bị đánh chìm một cách vô cớ như đã xảy ra với Cheonan!

VOA: Ông có nhận xét gì về lập trường của Hoa Kỳ trong vụ Cheonan, thưa Tiến sĩ?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Đáng tiếc là Hoa Kỳ không có lập trường nhất quán trong vụ này khi vừa cáo buộc Bắc Triều Tiên gây ra vụ Cheonan vừa tuyên bố đây “không phải là hành vi khủng bố quốc tế” cũng như không có tuyên bố nào coi đây là hành vi chiến tranh của Bình Nhưỡng, trong khi tàu chiến bị đánh chìm chỉ có thể là sản phẩm hoặc của chiến tranh hoặc của hoạt động khủng bố chứ không thể của cái gì khác!

Tóm lại theo tôi Hoa Kỳ cần thay đổi thái độ, tuyên bố dứt khoát việc Bắc Triều Tiên phóng ngư lôi đánh chìm tàu chiến Cheonan của Hàn Quốc là hành vi chiến tranh và yêu cầu Hội đồng bảo an xử lý.

Mặc dầu vậy, điều quan trọng trọng hơn rất nhiều là phải lần cho được nguyên cớ gì khiến Bình Nhưỡng có thể hành xử một cách nguy hiểm và ngạo mạn đến như vậy.

VOA: Theo Tiến sĩ, do đâu mà Bắc Triều Tiên có lối hành xử hiếu chiến đến như vậy?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Hỏi tức trả lời, chính Trung Quốc – chứ không phải ai khác – “chống lưng” Bắc Triều Tiên làm vụ này.

Thực vậy, vấn đề không chỉ là với tư cách ủy viên thường trực Hội đồng bảo an Liên Hiệp Quốc Trung Quốc hoàn toàn có thể bảo đảm cho Bắc Triều Tiên thoát khỏi sự lên án và trừng phạt của Liên Hiệp Quốc như thực tế đã diễn ra mà là ở chỗ Bắc Kinh thông qua Bình Nhưỡng thách thức Mỹ về quân sự ở Tây Thái Bình Dương.

Tóm lại, cần phải đặt vụ Cheonan trong “hồ sơ Bắc Kinh” theo đó vụ này chỉ là “phép thử” mạnh mẽ đầu tiên của Trung Quốc đối với độ tin cậy của Mỹ trong việc bảo vệ đồng minh quân sự của mình nói riêng, độ tin cậy của các liên minh quân sự mà Mỹ là một bên nói chung, nhằm thực hiện chiến lược “Trung quốc hóa Đông Á” bằng vũ lực mà Bắc Kinh hẳn đã hoạch định cho thế kỷ 21 này.

Điều rất cần lưu ý là tham vọng lãnh thổ của Trung Quốc dẫu hạn chế ở Đông Á nhưng vì nước này là cường quốc hạt nhân cũng như 1/3 lượng hàng hóa thương mại quốc tế và 50% số tàu chở dầu của thế giới qua lại trong khu vực nên chiến tranh xâm lược mà Bắc Kinh tiến hành tại đây tự nó mang tính toàn cầu. Bất an của thế giới ở thế kỷ 21 chính là chỗ đó.

Nói cách khác, an ninh thế giới mới phụ thuộc vào an ninh Đông Á.

VOA: Vậy theo Tiến sĩ, làm thế nào để hóa giải tham vọng lãnh thổ của Trung Quốc ở Đông Á?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Để có thể chống lại một mối đe dọa quân sự có tính toàn cầu như Trung Quốc tất không thể “tự lực cánh sinh” mà phải dựa vào liên minh quân sự với cường quốc hạt nhân khác. Tuy nhiên, như tôi đã từng đề cập trong một cuộc phỏng vấn của VOA về tham vọng của Trung Quốc trong cuộc tranh chấp biển Đông, chỉ có Hoa Kỳ với tư cách cường quốc duy nhất trên thế giới sẵn sàng đối mặt với Trung Quốc về quân sự mới có thể giúp Việt Nam nói riêng, các nước trong khu vực Đông Á nói chung, giải nổi bài toán an ninh lãnh thổ.

Cụ thể là liên minh quân sự với Mỹ sẽ giúp Việt Nam khẳng định và bảo vệ thành công chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa

Tuy nhiên để có thể vô hiệu hóa một cách nhanh chóng và hiệu quả nhất các cuộc tấn công quân sự từ phía Trung Quốc cần phải có một tư duy phòng thủ mới trong khu vực.

VOA: Điều này rất quan trọng, xin Tiên sĩ nói rõ thế nào là “tư duy phòng thủ mới”?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Các liên minh quân sự song phương hiện có giữa Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan, Phillippines, Thái Lan với Mỹ là để đối phó với những nguy cơ của thế kỷ 20 chủ yếu bắt nguồn từ chủ nghĩa cộng sản. Nói cách khác, sự có mặt quân sự của Mỹ ở các nước đó là nhằm duy trì chính quyền sở tại phi cộng sản hay nói cách khác, mang tính chất đối nội, “nhà ai nấy lo”.

Nay thì nguy cơ khác hẳn, bắt nguồn từ tham vọng lãnh thổ của Trung Quốc mà để hiện thực hóa nước này sử dụng chiêu “giải quyết tranh chấp trên cơ sở song phương” hay “chia để trị”. Vậy để hóa giải thành công chiêu “chia để trị” thì “kế liên hoàn” ắt là thượng sách. Cụ thể là phải tổ chức phòng thủ tập thể trên cơ sở liên kết các liên minh quân sự sẵn có và sẽ có với Mỹ trong đó liên minh quân sự Việt – Mỹ là không thể thiếu.

Tôi tạm gọi tổ chức phòng thủ mới này là Phòng thủ chung Đông Á (EACD – East Asia Common Defense).

VOA: Tại sao ông lại quả quyết rằng liên minh quân sự Việt – Mỹ là không thể thiếu trong hình thái phòng thủ chung chống lại đe dọa xâm lược từ phía Trung Quốc, thưa Tiến sĩ?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Đơn giản là Việt Nam là nước có kinh nghiệm dày nhất và thành công nhất trong kháng chiến chống xâm lược Trung Hoa và kinh nghiệm này một khi chia xẻ chắc chắn sẽ rất hữu ích cho phòng thủ của các nước khác cũng trong “tầm ngắm” của Trung Quốc.

Thực tình mà nói, Việt Nam là nước Trung Quốc sợ phải giao chiến nhất.

VOA: Liệu có trở ngại gì không khi Việt Nam liên minh quân sự với Hoa Kỳ, đối tượng mà Hà Nội coi là “xâm lược” trong cuộc chiến tranh Việt Nam, thưa Tiến sĩ?

Tiến sĩ Cù huy Hà Vũ: Để cứu nước thì dù có phải liên minh với quỷ dữ cũng vẫn phải làm. Với Hiệp định 6 tháng 3 năm 1946 Hồ Chí Minh chẳng đã “rước” quân Pháp lăm le tái chiếm Đông Dương từ miền Nam ra miền Bắc Việt Nam để thay thế 20 vạn quân Trung Hoa Dân quốc chẳng phải là bài học lớn đó sao?

Thành thử liên minh quân sự với cựu thù hay “quân xâm lược” trong quá khứ để bảo vệ Độc lập và Chủ quyền lãnh thổ quốc gia đâu có phải là vấn đề!

Huống hồ quân đội Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam không phải là những kẻ xâm lược. Thực vậy, “xâm lược” là hành vi xâm chiếm lãnh thổ của nước khác trong khi cuộc chiến mà Mỹ đã tiến hành ở Việt Nam là nhằm đánh chặn chủ nghĩa cộng sản chứ không nhằm mục đích chiếm đất. Nói cách khác, cuộc chiến của Mỹ ở Việt Nam là cuộc chiến “ý thức hệ”.

Tương tự như vậy, nếu mục đích của Mỹ trong cuộc chiến tranh Triều Tiên những năm đầu thập kỷ 50 của thế kỷ trước là lãnh thổ chứ không phải để chống “cộng sản hóa” bán đảo này thì không loại trừ lá cờ của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đã thêm một ngôi sao thay vì Hàn quốc bây giờ.

Vả lại, nếu ban lãnh đạo cộng sản Việt Nam khăng khăng tiến hành chiến tranh trên lãnh thổ nước khác là “xâm lược” để duy trì quan điểm “Mỹ xâm lược Việt Nam” thì cuộc chiến 10 năm của Việt Nam ở Căm Pu Chia, từ 1979 đến 1988, phải được gọi là gì?!

Nói cách khác, quan điểm “Mỹ xâm lược Việt Nam” thực sự “hết thiêng” với việc quân đội Việt Nam đánh thẳng vào Phnompenh để lật đổ chế độ diệt chủng của “cựu đồng chí” Khmer Đỏ.

VOA: Mới đây khi trả lời báo chí phỏng vấn về Hội nghị Shangri-La ở Singapore, Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh tuyên bố: “Không để các lực lượng xấu sử dụng vấn đề Biển Đông để kích động, chia rẽ quan hệ Việt Nam-Trung Quốc, chia rẽ quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân Việt Nam”. Phải chăng đây lại là trở ngại khác cho việc Việt Nam và Hoa Kỳ trở thành đồng minh quân sự của nhau, thưa Tiến sĩ?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Hoàn toàn không phải như vậy, ngược lại là đằng khác.

Thứ nhất, phải khẳng định rằng không có đảng phái chính trị nào, không có Nhà nước nào, không có nhân dân nào phi quốc gia và không có quốc gia nào lại có thể tồn tại không trên lãnh thổ cụ thể. Do đó bảo vệ chủ quyền lãnh thổ là chính là bảo vệ quốc gia, tức bảo vệ lợi ích của nhân dân và mọi thể chế chính trị tồn tại trong quốc gia đó. Nói cách khác, không bảo vệ được lãnh thổ là mất hết!

Vì vậy, không thể có chuyện ngược đời là hy sinh lãnh thổ mà ở đây là chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông bao gồm Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc lại có thể bảo vệ được lợi ích của đảng phái chính trị, Nhà nước hay nhân dân Việt Nam.

Thứ hai, phải nói thẳng là quan hệ “đồng chí” hay quan hệ “hữu cơ” phải bảo vệ bằng mọi giá giữa Đảng cộng sản Việt Nam và Đảng cộng sản Trung Quốc đã không còn lý do tồn tại.

Thực vậy, mục đích của chủ nghĩa cộng sản là tiêu diệt chủ nghĩa tư bản và xây dựng một thế giới phi quốc gia. Thế nhưng có lẽ trừ thời kỳ trước khi nắm chính quyền, cả Đảng cộng sản Việt Nam lẫn Đảng cộng sản Trung Quốc không đảng nào còn công khai “chí hướng” xây dựng một thế giới phi quốc gia và hiện nay thì cả hai đảng không những loại hẳn “đấu tranh giai cấp” ra khỏi cương lĩnh của đảng mà ngược lại, hối hả thực hành chủ nghĩa tư bản như thể lấy lại thời gian đã mất!

Thứ ba, nếu các chính khách như quan chức Đảng cộng sản hay Chính phủ Việt Nam mà tuyên bố như vậy thì hẳn nhiên đó là lời lẽ của những kẻ phản bội Tổ quốc và với loại người này mà bàn tính liên minh quân sự với nước ngoài để bảo vệ Tổ quốc thì quả thật hơn cả nhạo báng, là một sự sỉ nhục!

Tuy nhiên đây là phát ngôn của một tư lệnh quân sự mà phép quân thì được quyền nói dối, được quyền “nói một đằng, làm một nẻo”, mà theo binh pháp Tôn Tử là chiêu “Dương Đông kích Tây”. Nghĩa là phát ngôn trên của Tướng Phùng Quang Thanh nhằm che dấu nỗ lực ngày một gia tăng của quân đội Việt Nam trong việc chống lại hiểm họa xâm lăng từ Trung Quốc mà liên minh quân sự với Mỹ dù muốn hay không vẫn là sự lựa chọn hàng đầu.

Về phía ban lãnh đạo Bắc Kinh, tôi cho rằng họ, nhất là với tư cách hậu duệ của Tôn Tử, không dễ gì mắc kế “Dương Tây kích Đông” của tướng lĩnh Việt Nam nhưng cũng không dễ gì thoát khỏi như lịch sử chiến tranh giữa hai nước đã chứng minh.

VOA: Như tiến sĩ đã nói, liên minh quân sự với Mỹ là để cứu nước, cụ thể và trước mắt là để bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. Thế nhưng vào năm 1958, Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng đã gửi cho Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai Công hàm coi như tán thành Tuyên bố của Trung Quốc về lãnh hải của Trung Quốc, bao gồm cả quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, một sự kiện bị nhiều người Việt coi là “bán nước”. Vậy ý kiến của Tiến sĩ về Công hàm này như thế nào?

TS Cù Huy Hà Vũ: Năm 1979 trong Tuyên bố về quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa Bộ Ngoại giao Việt Nam đã khẳng định sự diễn giải của Trung quốc về văn bản ngày 14 tháng 9 năm 1958 của Thủ tướng nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà như một sự công nhận chủ quyền của phiá Trung quốc trên các quần đảo là một sự xuyên tạc trắng trợn khi tinh thần và ý nghĩa của bản văn chỉ có ý định công nhận giới hạn 12 hải lý của lãnh hải Trung quốc. Biên niên các hoạt động đối ngoại của Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong sách “Phạm Văn Đồng và Ngoại giao Việt Nam” do Bộ Ngoại giao Việt Nam biên soạn năm 2006 đã không liệt kê văn kiện này.

Ngoài ra có ý kiến cho rằng Công hàm không thể có giá trị vì được ký vào Chủ nhật, tức không phải ở nhiệm sở.

Thế nhưng phản đối cách diễn giải của Trung Quốc, dùng tiểu xảo hay dấu nhẹm Công hàm đều không phải là cách để rũ bỏ văn kiện ngoại giao tai hại này. Theo tôi cách duy nhất để làm việc này là chứng minh Công hàm không có giá trị về mặt pháp luật.

VOA: Muốn chứng minh thì phải chứng minh như thế nào, thưa Tiến sĩ?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Công hàm ngày 14 tháng 9 năm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng là vô hiệu với ba căn cứ sau:

Một là, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không có thẩm quyền đàm phán về lãnh thổ.

Hiệp định Genève 1954 đã chia cắt tạm thời Việt Nam làm hai tại vĩ tuyến 17 và dự kiến sự chia cắt tạm thời đó sẽ được xoá bỏ vào năm 1956 sau khi tổng tuyển cử được tiến hành trên toàn lãnh thổ Việt Nam bầu ra được một Quốc hội thống nhất và trên cơ sở đó định ra được một Chính phủ thống nhất.

Như vậy, cả Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ở miền Bắc lẫn Chính phủ Quốc gia Việt Nam và tiếp đó nội các Việt Nam Cộng hoà ở miền Nam đều là những chính quyền tạm thời nên theo công pháp quốc tế không có thẩm quyền đàm phán lãnh thổ với nước ngoài. Nói cách khác, chỉ có Chính phủ của một nước Việt Nam thống nhất mới có thẩm quyền đó.

Thế nhưng như chúng ta đã thấy, Chính phủ Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam với tư cách Chính phủ của nước Việt Nam thống nhất, hơn thế nữa, với tư cách Chính phủ Việt Nam duy nhất được Liên Hiệp Quốc công nhận, chưa bao giờ công nhận Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Trung Quốc, mà ngược lại, luôn khẳng định hai quần đảo này là lãnh thổ không thể tách rời của Việt Nam.

Hai là, ngay cứ cho rằng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là Chính phủ của nước Việt Nam thống nhất thì Công hàm này cũng không mảy may có giá trị pháp lý vì Công hàm này chưa bao giờ được trình Quốc Hội xem xét và phê chuẩn.

Thực vậy, theo thông lệ quốc tế, mọi cam kết quốc tế của Chính phủ, của Thủ tướng hay của người đứng đầu Nhà nước chỉ có giá trị pháp lý hay có hiệu lực thi hành nếu cam kết được Quốc Hội phê chuẩn. Nói cách khác, Công hàm chỉ dừng lại ở mức phản ánh quan điểm của cá nhân Thủ tướng Phạm Văn Ðồng hay của Chính phủ.

Ba là, Công hàm không có giá trị vì bản thân Tuyên bố ngày 4-9-1958 của Chính phủ Trung Quốc về lãnh hải của Trung Quốc hoàn toàn không có giá trị đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Thực vậy, Trung Quốc chưa bao giờ phủ nhận dưới bất cứ hình thức nào chữ ký của Thủ tướng Chu Ân Lai tại văn bản Hiệp định Genève 1954 công nhận Chính phủ Quốc gia Việt Nam được quyền quản lý quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.

VOA: Để kết thúc, Tiến sĩ có thông điệp nào nhắn gửi Diễn đàn khu vực ASEAN vừa chấm dứt?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Đồng hành quân sự với Hoa Kỳ là mệnh lệnh của thời đại vì một an ninh thế giới mới đến từ Đông Á.

VOA: Xin trân trọng cảm ơn Tiến sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ về sự mạnh mẽ và sâu sắc trong quan điểm cũng như về thời gian mà ông đã dành cho VOA trong cuộc phỏng vấn này.

Theo Namvietnetwork

____________________________

Tiếp tục tham gia ký tên yêu cầu trả tự do cho TS Cù Huy Hà Vũ
BAUXITEVN – THƯ KIẾN NGHỊ TRẢ TỰ DO CHO CÔNG DÂN CÙ HUY HÀ VŨ
Đồng hành với Tiến sỹ Luật Cù Huy Hà Vũ là mệnh lệnh của thời đại
Bấm vào đây để trở về trang chủ

Bài này đã được đăng trong Bài vở liên quan và được gắn thẻ , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

12 Responses to TS Cù Huy Hà Vũ: Ðồng hành quân sự với Hoa Kỳ là mệnh lệnh của thời đại!

  1. Phuong xa nói:

    hay tra tu do ngay tuc khac cho TS Cu Huy Ha Vu, hay de TS dong gop hieu biet cua minh de bao ve To Quoc VN va nhan dan VN!


  2. Biển Đông đang có lũ giặc CỜ ĐEN Somali treo cờ Khựa của Nhà nước hải tặc côn đồ ?
    ===================================

    « Chúng tôi xin nói rõ là Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc không có hành động can dự nào vào sự việc vừa diễn ra ! .. .. »

    HẠ (thượng) tướng Lương Quang Liệt – Singapore, ngày 03 tháng sáu năm 2011

    Bộ quốc phòng Vệ – Tề gặp song phương …

    Thằng Vệ nêu sự kiện tầu Bình Minh trùng dương

    Tên Liệt xứ Tề mồm thẳng thừng chối cãi

    Đúng cháu Tào Tháo tào lao con Tần vương !

    Có lẽ cáp địa chấn Bình Minh đứt chắc ? ?

    Do cá tra Chệt từ ao lạch ra đại dương lạc đường !

    Mới hay di thể trong tủy xương Đại Hán :

    Láo xạo gian tà truyền kiếp ma quỷ vương !

    TRIỆU LƯƠNG DÂN

  3. Chào các bác !!
    Em xin báo động tới các bác báo lề trái là chính quyền (lãnh đạo cả CA (chứ không phải là CA “không lề” ) đã động đến giới báo không lề và dân làm báo như sau :
    https://chhv.wordpress.com/2011/06/04/%EF%BB%BFtin-kh%E1%BA%A9n-blogger-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-buon-gio-m%E1%BA%A5t-tich-t%E1%BA%A1i-sai-gon/

  4. Thực hiện dân chủ kiểu Mỹ sẽ làm cho các con khủng long chính trị trong Đảng CSVN rất khó tham nhũng. Khi đó, thu nhập phi pháp của họ bị giảm sút. Họ không chịu đâu. http://www.giaiphapdanchu.com

  5. Hoàng Yến nói:

    Mỹ sợ Trung Quốc còn dân tộc Việt Nam không sợ.Tất cả mội người Việt hãy học tập lao động sáng tạo vì tổ quốc của chúng ta.Trung quốc hay bất cứ gia nào định xâm lược Việt Nam thì cũng đều bị cả thế giới lên án và chính quốc gia đó sẽ suy yếu -tan rã mà thôi.Người Việt sẽ chiến đấu bảo vệ tổ quốc của mình!

  6. Pingback: Ðồng hành quân sự với Hoa Kỳ là mệnh lệnh của thời đại! | phamdinhtan

  7. Tôi muốn biết tỷ lệ ủng hộ ứng viên Nguyễn Tấn Dũng là 95 % là có thật hay không ?? Có gian lận trong này không ?? Nhất là dưới con mắt của đa số dân chúng gồm 87 triệu dân VN đây (http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/440831/Cong-bo-ket-qua-bau-cu-Quoc-hoi.html) ?? Cần phải minh xét dưới ánh sáng vũ trụ này !!

    • Chào bạn phó thường dân !!
      Tôi xin lấy thống tin của báo chí lề phải để làm dẫn chứng cho con đường của nhân dân VN phải đồng hành quân sự với Hoa Kỳ thì mới đem lại chủ quyền cho VN, đem lại dân chủ cho dân tộc VN như sau :
      a- Tôi thấy ông Nguyễn Tấn Dũng lại được trúng cử đại biểu QH thì cũng đồng thời với chức vụ Thủ tướng như sau :
      http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/440831/Cong-bo-ket-qua-bau-cu-Quoc-hoi.html
      b- Tôi thấy ông chủ tịch UBND tỉnh Long An trượt đại biểu HĐND tỉnh Long An cùng với việc phải thôi chức chủ tịch tỉnh LA như sau :
      http://dantri.com.vn/c728/s728-485091/chu-tich-ubnd-tinh-long-an-khong-trung-cu-hdnd.htm
      Giáo dân, phật tử, dân ngu chúng ta đã sợ hãi trước cường quyền nên mới có chuyện đầu voi đuôi chuột mà sợ bầu cho NTDũng tỷ lệ cao (95%) mà lại cho tay chân của ông ta trượt HDND. Điều này làm cơ sở cho việc cấp trên (chính phủ) lại điều động ông chủ tịch tỉnh LA đi TU làm chức thứ trưởng thì cũng bằng hòa. Tức là sẽ không có dân chủ thực sự trong cuộc bầu cử này được rồi !!!
      Mặt khác, người ta nói “thượng bất chính, hạ tắc loạn” nên ông chủ tịch tỉnh LOng An mà về TU mà không nhất thiết phải là đại biểiu QH thì ông ta có thể kéo theo những người đã trượt HDND cấp huyện, cấp xã về TU để làm chức vụ tương đương thì cũng bằng hòa. Vậy bầu cử để làm gì ?? Dân chủ phải dân chủ theo phương Tây (đa đảng) thì mới đem lại dân chủ cho VN. Dân chủ tốt thì tất kéo theo kinh tế phát triển tốt hơn chứ, hơn nữa lại bảo vệ được chủ quyền QG .

    • Thiết nghĩ bên nào mà nắm vững được quy luật thời gian đi nhanh hơn ko gian thì bên đó sẽ thắng và nhân danh Chúa Thánh thần tôi xin gửi một thông tin hỏa tốc nhanh 1 s là đến nơi của thế kỷ 21 này đến quý chư vị và bạn đọc như sau :
      http://nguyentrongtao.org/2011/06/03/truy%E1%BB%81n-hinh-tq-chi%E1%BA%BFu-ch%C6%B0%C6%A1ng-trinh-len-k%E1%BA%BF-ho%E1%BA%A1ch-t%E1%BA%A5n-cong-vi%E1%BB%87t-nam/
      http://bandoclambao.wordpress.com/2011/06/03/truy%E1%BB%81n-hinh-tq-chi%E1%BA%BFu-ch%C6%B0%C6%A1ng-trinh-len-k%E1%BA%BF-ho%E1%BA%A1ch-t%E1%BA%A5n-cong-vi%E1%BB%87t-nam/
      Khi đã nắm vững về quy luật thời gian đi nhanh hơn ko gian trong vũ trụ thì quý chư vị đã biết được chân lý thuộc về lề trái hay lề phải rồi phải không ?? Do đó, sẽ có cuộc chiến tranh để bảo vệ lẽ phải (lề trái) và chống lại lẽ trái (lề phải) rồi !! Không còn nghi ngờ gì nữa, người đàn bà nhân danh chúa Giê – su đã tiên tri cho con người về thế chiến 3 đang diễn ra là Vanga đã tiên đoán rất đúng !!

  8. Hoàng Công nói:

    Hòa bình của chúng ta không phải là cầu hòa, Việt Nam không chấp nhận hòa bình lệ thuộc. Khi ta đã làm tất cả những gì có thể để gìn giữ hòa bình mà nước khác cứ muốn xâm hại lợi ích của đất nước ta thì lúc đó, thế của ta sẽ như cánh cung kéo hết, đã buông dây cung thì đó là sức mạnh vô cùng to lớn của cả dân tộc để bảo vệ Tổ quốc mình. Đối sách của chúng ta cần ghi nhớ lời Hồ Chủ Tịch đã dạy: “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” trên tinh thần chủ động, sẵn sàng cho mọi tình huống. Các bài học lịch sử đã cho thấy dù chúng ta có nín nhịn cũng chẳng thể được yên. Đã đến lúc phải mạnh mẽ và kiên quyết hơn trên mặt trận pháp lý, ngoại giao.
    Tàu chiến Gepard 3.9 tập trận bắn đạn thật trên biển Baltic. Đây là loại tàu chiến mới nhất quân đội VIệt Nam vừa mua của nga.

    Về pháp lý, chuẩn bị tích cực và đầy đủ hơn chứng cứ về chủ quyền biển đảo. Về ngoại giao Việt Nam cần kiên quyết cảnh cáo hành vi xâm phạm chủ quyền quốc gia của Trung Quốc. Nên mang vấn đề này ra các diễn đàn khu vực và Liên hợp quốc. Báo chí cần được đưa tin rộng rãi hơn về âm mưu và hành động dã tâm của Trung Quốc, phản ánh dư luận xã hội, tạo nên sức mạnh bảo vệ chủ quyền của đất nước.

    Cần cảnh báo cho Trung Quốc hiểu thế giới hiện tại không đơn giản chỉ có mỗi Trung Quốc là cường quốc. Họ chưa đạt mức độ 10 lần hơn đối phương để chủ nghĩa “phiêu lưu” có thể trỗi dậy mà làm một cuộc tấn công bất ngờ nhằm độc chiếm biển Đông. Ngược lại, nếu phải chiến đấu trong thế 1 chọi 10 thì nhân dân Việt Nam cũng cần hiểu rõ và biết trước tình hình để có sự chuẩn bị tốt nhất.

    Cần nhận định rõ ý đồ của Trung Quốc là xác lập chủ quyền “Biển Đông” là của Trung Quốc – biển “Nam Trung Hoa” hay “vùng nước lịch sử”, các quốc gia khác không được tranh chấp và Trung Quốc dứt khoát không thương lượng về chủ quyền này nhưng Trung Quốc lại nói sẵn sàng “thương lượng” để cùng nhau khai thác!!!

  9. DOQUOCMINH nói:

    Trả tự do ngay cho LS Cù Huy Hà Vũ và những ai lâu nay đang bị giam cầm vì lý do chống TQ vào lúc này là thựơng sách trong các kế sách giữ nước.Bởi ngay sau vụ án ngày 4/4/2011 Vũ đã được xem như tượng đài của lòng quả cảm, yêu nước;và tư tưởng của ông chính là hiện thân của khát vọng hòa hợp dân tộc ,mà vì nhiều lí do khác nhau đã không còn lành lặn từ sau 30/4/1975.Làm được việc trên ,đất nước sẽ tranh thủ,và huy động đến mức cao nhất sự ủng hộ của các nước,các tổ chức luôn có xu thế đấu tranh cho hòa bình,tự do dân chủ trên toàn thế giới.Họ sẽ chính là một bộ phận tối quan trọng trong lực lượng VỆ QUỐC của VN chúng ta.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s