GS Nguyễn Tiến Dũng – Vì sao Công Hàm năm 1958 của Phạm Văn Đồng không có giá trị ?

“Luận điểm thứ 6 không phải do tôi nghĩ ra, mà ít ra đã được ông Cù Huy Hà Vũ viết ra trong một thư gửi ông Lê Đức Anh từ 12/2007 (và có thể đã được những người khác chỉ ra từ trước đó ?). Rất tiếc, một người chính trực và khá sắc sảo như ông Cù Huy Hà Vũ thì lại ngồi tù.”

(Có chỉnh sửa lại so với bản viết buổi sáng)

Công hàm Phạm Văn Đồng vào 09/1958 gửi cho Chu Ân Lai có ghi đại ý Chính Phủ VN tán thành với bản tuyên bố của TQ về hải phận (trong đó có ghi HS & TS là của TQ, trừ khi các văn bản mà tôi tìm thấy trong các tài liệu đã bị xuyên tạc). Việt Nam, trong vấn đề tranh chấp HS&TS, phải tìm cách vô hiệu hóa, phủ nhận Công Hàm của PVĐ, trên tòa án quốc Tế, cũng như đối với dư luận của quốc tế và các nước trực tiếp liên quan. Câu hỏi là làm sao phủ nhận nó? Dưới đây là các giải pháp đã được chỉ ra, tôi muốn thử phân tích sự hay dở của từng giải pháp.

1) Trung Quốc lừa ta. TQ hứa là sẽ chỉ chiếm hộ HS, rồi sẽ trả lại khi thống nhất VN.

Câu giải thích trên của một số quan chức VN cho nhân dân VN không có ý nghĩa gì với dư luận thế giới hay TQ và cũng không có giá trị pháp lý. Nếu TQ đã hứa là sẽ chỉ “giữ hộ” HS thì chứng cớ đâu ? Nếu chỉ có mấy lời nói miệng của ai đó, mà không ai có thể kiểm chứng là có thật hay không, thì có giá trị gì. Hơn nữa, việc “hứa” đó là không logic, nếu ta xét lịch sử tranh chấp đã có từ ít nhất là cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, khi nhà Thanh đã tranh chấp với Pháp ở HS&TS, rồi đến quân Tưởng Giới Thạch cũng ra chiếm một số đảo ở HS&TS, rồi đến CHNDTH cũng tuyên bố HS&TS là của mình, tức là trong suốt quá trình đó (từ trước khi có VNDCCH cho đến sau khi có VNDCCH) phía TQ (dù là chế độ nào) cũng nhận HS&TS là của mình và có đem quân ra chiếm phần, nên không có cớ gì Mao lại “hứa trả” HS cho VN. Nếu tin vào “lời hứa” đó thì có lẽ hơi “ngây thơ”. Bởi vậy, cách giải thích thứ nhất này có vẻ không ổn.

2) Công hàm của PVĐ chỉ là để công nhận chủ quyền 12 hải lý của TQ, chứ không hề công nhận HS&TS là của TQ vì không hề nhắc tới HS&TS.

Luận điểm này có vẻ yếu. Tuyên bố của TQ có ghi rõ HS&TS trong đó. Công hàm của PVĐ có ghi rõ là tán thành với tuyên bố của TQ, và không hề phản đối bất cứ điểm nào trong tuyên bố của TQ, thì theo logic thông thường có nghĩa là tán thành với mọi điểm của tuyên bố của TQ, trong đó có cả điểm “HS&TS là các đảo của TQ”.

3) Lúc đó chỉ có TQ là nguồn viện trợ chính, nên  VN “đành chấp nhận” tuyên bố của TQ.

Câu trên chưa phải là giải pháp, mới chỉ là nhìn nhận vấn đề một cách trung thực: Bắc VN thừa biết TQ chẳng có ý định “giữ hộ” gì hết, nhưng lúc đó ở thế bí, cần viện trợ để đánh Nam VN (và sợ Mỹ sử dụng HS làm căn cứ quân sự ?) nên làm vậy.

Theo tôi hiểu, bản thân ông Phạm Văn Đồng có giải thích đại ý như vậy về sau, và ông Nguyễn Mạnh Cầm  cũng đã phát biểu đại ý như vậy vào năm 1992 (?).

4)  Lúc đó HS&TS là do Nam VN giữ theo hiệp định Geneve, và Bắc VN không có chủ quyền với các đảo đó, sự tranh chấp là giữa TQ và Nam VN chứ Bắc VN chỉ là bên thứ ba không liên quan, nên tuyên bố của PVĐ không có giá trị.

Cách lý luận trên làm nảy sinh vấn đề sau:

Bắc VN không công nhận Nam VN là chính phủ hợp pháp, mà chỉ coi là “bù nhìn”, cần bị đánh dẹp, và như thế có nghĩa là Bắc VN (trong con mắt của một số nước thân với Bắc VN, trong đó có TQ) là đại diện hợp pháp duy nhất cho VN thời đó. Sự tranh chấp là tranh chấp với toàn bộ VN, mà chính quyền HN làm đại diện. Nếu bây giờ nói “không lúc đó tôi không liên quan”, thì tức là Bắc VN phải công nhận sự hợp pháp của chính quyền Nam VN là một đại diện thực sự cho VN chứ không phải là “chính quyền ngụy” nữa, nhưng như thế thì lại mất ý nghĩa “giải phóng miền Nam” mà là thành “xâm lược Nam VN”. Nếu tiếp tục cách giải thích “lúc đó tôi không liên quan”, thì đến năm 1975 HN chỉ được “thừa kế” phần TS do SGN lúc đó để lại, chứ không có được HS để mà thừa kế nữa, tức là trong tranh chấp HS giữa TQ và Nam VN thì TQ đã xơi tái HS rồi, còn đâu mà thừa kế. Trước 75 không phải của mình vì “chuyện không liên quan”, đến 75 cũng không phải của mình vì có được ai giao cho đâu, thì bây giờ khó nhận thành của mình.

Nếu bỏ qua chuyện pháp lý, và chỉ tính chuyện thực tế, thì đúng là cho đến 1975 phía HN có muốn cũng không kiểm soát được HS&TS, nên đúng là “không liên quan” thật (về mặt khả năng tranh chấp hay kiểm soát). Và do đó, cũng trên thực tế, chỉ có TS là VN thống nhất còn giữ được, còn HS đã bị mất vào tay TQ trong giai đoạn chiến tranh Nam-Bắc.

5) Cả hai chính phủ Bắc VN và Nam VN đều chỉ là chính phủ lâm thời để chở tổng tuyển cử, theo hiệp định Geneve. Các chính phủ lâm thời thì không có quyền quyết định về chủ quyền, nên tuyên bố của PVĐ không có giá trị.

Có điều, hiệp định Geneve đã bị phá bỏ ít năm sau đó, không còn có lịch trình tổng tuyển cử nữa, và cả hai chính phủ Bắc VN và Nam VN đều trở thành “permanent” chứ không còn lâm thời nữa, có đầy đủ các ban bộ, quốc hội, v.v. Bởi vậy lý do này kém sức thuyết phục.

6) Mọi tuyên bố của chính phủ về chủ quyền cần được quốc hội thông qua thì mới có hiệu lực. Vì tuyên bố của Phạm Văn Đồng chưa bao giờ được quốc hội thông qua, nên không có hiệu lực.

Theo tôi, đây có lẽ chính là lý lẽ “hợp lý” nhất. Nói cách khác, tuy “Đảng” có nói là HS&TS là của TQ đi chăng nữa, mà “Dân” nói HS&TS là của VN, thì về mặt pháp lý, đối với nước VN, nó vẫn là của VN. Chúng ta cần chú ý điểm này: Quốc Hội (đại diện cho Dân) quan trọng hơn là các quan chức chính phủ (do Đảng chỉ định), ít ra là trong các vấn đề vô cùng quan trọng như là vấn đề chủ quyền lãnh thổ.

Tuyên bố của TQ vào 09/1958 là tuyên bố được Quốc Hội TQ thông qua. Nhưng tuyên bố của PVĐ chưa hề được Quốc Hội VN thông qua. Quốc Hội VN chưa bao giờ nói rằng HS & TS là của TQ.

Tôi có thắc mắc là tại sao phía VN cho đến nay không dùng luận điểm này ?

Luận điểm thứ 6 không phải do tôi nghĩ ra, mà ít ra đã được ông Cù Huy Hà Vũ viết ra trong một thư gửi ông Lê Đức Anh từ 12/2007 (và có thể đã được những người khác chỉ ra từ trước đó ?). Rất tiếc, một người chính trực và khá sắc sảo như ông Cù Huy Hà Vũ thì lại ngồi tù.

GS. Nguyễn Tiến Dũng (Đại học Toulouse, Pháp)

Theo Zetamu

“Thưa đồng chí Tổng lý
Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.
Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa trên mặt biển.
Chúng tôi xin gửi đồng chí Tổng lý lời chào trân trọng”.(3)

Trích từ bài “Bức công hàm của TT Phạm Văn Đồng là lá bài tẩy trong tình hữu nghị Việt-Trung? “(Danchimviet)

TS Cù Huy Hà Vũ: Ðồng hành quân sự với Hoa Kỳ là mệnh lệnh của thời đại

Các hành vi quân s ca Trung Quc bin Đông ngày mt gia tăng, tàu chiến Cheonan ca Hàn Quc b Bc Triu Tiên đánh chìm mt cách vô c… đang biến Đông Á thành khu vc ni sóng. Vy thì Vit Nam phi làm gì? Sau đây là mt s nhn đnh ca Tiến sĩ Lut Cù Huy Hà Vũ t Hà Ni dành cho VOA nhân dp Din đàn khu vc ASEAN (ARF) va chm dt ti Hà Ni.

(Nếu phn audio trên b trc trc, bấm vào đây để nghe)

Huy Phương | Washington Th Hai, 26 tháng 7 2010

VOA: Thưa Tiến sĩ Lut Cù Huy Hà Vũ, vi tư cách mt nhà tranh đu có tm nhìn chiến lược hàng đu trong công cuc bo v đc lp và ch quyn lãnh th ca Vit Nam, ông có th chia s cm nhn ca cá nhân v nhng gì đang xy ra liên quan đến an ninh ca các nước ASEAN nói riêng, khu vc Đông Á nói chung?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Phi nói ngay rng, bước sang thế k XXI, an ninh thế gii đã chuyn trng tâm t châu Âu sang Đông Á.

Mt cách khái quát, an ninh thế gii t sau Chiến tranh thế gii II được mc đnh bi n lc ngăn chn chiến tranh nóng mang tính hy dit hàng lot gia các nước phương Tây và khi cng sn Đông Âu do Liên Xô đng đu và n lc này đã thành công vi s sp đ ngon mc và được báo trước ca khi cng sn trên lc đa cũ vào cui nhng năm 80 ca thế k XX.

Ngày nay bt an thế gii li đến t Đông Á, hay chính xác hơn, t Trung Hoa cng sn.

Thc vy, ch nghĩa cng sn Trung Quc “hu Đông Âu” đang biến tướng thành ch nghĩa đế quc c đin hay ch nghĩa Tân Đi Hán vi đc trưng là bành trướng lãnh th.

VOA: Da vào đâu Tiến sĩ cho rng ch nghĩa cng sn Trung Quc đang biến tướng?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Đông Nam Á, như tôi đã tng đ cp, Trung Quc đã và đang thc hin xâm lược c “cng” ln “mm”. “Xâm lược cng” là dùng sc mnh quân s đ thôn tính như Trung Quc đã làm đi vi qun đo Hoàng Sa vào năm 1974 và đang làm đi vi qun đo Trường Sa ca Vit Nam. “Xâm lược mm” là di dân cùng các d án kinh tế có thi hn hàng chc năm đến 99 năm ký vi các nước “con mi’ như cu bán đo Đông Dương và Miến Đin.

Đông Bc Á, Trung Quc đang thc hin “xâm lược mm” đi vi Bc Triu Tiên bng cách làm cho chế đ Bình Nhưỡng ph thuc vào h đến đ dt ra là “tc t”. Nói cách khác, Bc Kinh đang thc hin mt cái chết t t đi vi Bc Triu Tiên đ thi cơ đến s sáp nhp vào Trung Quc, biến nước này thành mt “Ni Triu” theo hình mu “Ni Mông”.

VOA: Nếu kch bn “Ni Triu” là có tht thì nó s xy ra khi nào, thưa Tiến sĩ?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Theo tôi là vào giai đon “hu Kim Chính Nht” bi lp cháu ni ca Kim Nht Thành chc chn s không đ sc và nht là không đ bn lĩnh đ cưỡng li s thôn tính ca Bc Kinh được chun b mt cách công phu và cc kỳ thâm him như đã phân tích.

V li giai đon đó nếu Trung Quc không “ra tay” trước thì mt Bc Triu Tiên kit qu c v kinh tế ln chính tr tt b hút vào mt Nam Triu Tiên thnh vượng chng khác gì s phn ca Đông Đc khi bc tường Berlin b phá d cách nay hai thp k.

Đ nói kch bn “Ni Triu” tt yếu xy ra nhưng Trung Quc có thc hin được trót lt kch bn này hay không li là chuyn khác.

Vit Nam phong kiến có câu: “Không ai giàu ba h, không ai khó ba đi” nên thêm mt lý do na đ tôi tin lp kế ngôi Kim Chính Nht không th nào gi được Bc Triu Tiên như “lãnh đa” ca h Kim và tôi cũng tin rng không chóng thì chy hai min Nam – Bc Triu Tiên s sum hp mt nhà, tc bán đo này s được thng nht mt cách hòa bình như đã din ra vi nước Đc.

VOA: Thưa Tiến sĩ, ông có quá ch quan không khi chếđ Bình Nhưỡng luôn khoe s hu vũ khí ht nhân và sn sàng gây chiến tranh, như đã th hin bng vic dùng ngư lôi đánh đm tàu chiến Cheonan ca Hàn Quc vào tháng Ba va qua, theo kết lun ca mt điu tra quc tế do Hàn Quc đng đu; và mi đây còn da s m “thánh chiến” vi M và Hàn Quc?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Tôi cho rng vũ khí ht nhân nếu có ch đáng gm khi còn nm trong tay thế h “chiến tranh lnh” như Kim Chính Nht.

V v tàu chiến Cheonan ca Hàn Quc b bn chìm thì không nghi ng gì na, đó là mt thách thc cc kỳ nghiêm trng không ch đi vi an ninh Đông Bc Á mà đi vi an ninh thế gii nói chung bi nó din ra mt cách vô c, không trong bi cnh có xung đt quân s công khai.

Chính vì tính cht siêu nghiêm trng ca v vic nên vic điu tra phi khách quan nht có th.

VOA: Ý ông mun nói là cuc điu tra do quc tế tiến hành vn chưa được khách quan?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Đúng vy. Chưa k tính khách quan khó có th đng vng khi Hàn Quc là nn nhân li lãnh đo nhóm điu tra thì mt trong nhng nguyên tc gii quyết v vic hình s dù quc ni hay quc tế là không được làm oan người vô ti bng cách tìm cho hết chng c g ti ch không được nhăm nhăm tìm chng c buc ti đương s như nhóm điu tra quc tế v Cheonan đã làm đi vi Bc Triu Tiên cho đến thi đim này.

C th là nhóm điu tra quc tế, tt nhiên không phi do Hàn Quc lãnh đo, phi mi Bc Triu Tiên cùng điu tra theo mt trong hai phương thc: hoc là ngay t đu khi lp nhóm điu tra quc tế, hoc là sau khi nhóm điu tra quc tế đã có kết lun sơ b v v Cheonan, ct đ nước này phn bác bng cách đưa ra nhng chng c chng minh h không dính líu. Ri trên cơ s xem xét mt cách nghiêm túc mi chng c c buc ti ln g ti cho Bình Nhưỡng nhóm điu tra quc tế mi có th đưa ra kết lun v v này.

Trong trường hp kết lun điu tra xác đnh Bc Triu Tiên là th phm đánh chìm tàu chiến Cheonan mà nước này vn không chu thì kết lun này vn được đ trình Hi đng Bo an Liên Hip Quc xem xét kèm bo lưu phn bác ca nước này. Tiếp đó nếu Hi đng Bo an đng ý vi kết lun điu tra mà ra ngh quyết x lý Bc Triu Tiên theo công pháp quc tế thì cũng không mang tiếng là áp đt và nếu thành viên nào phn đi thì đó s hành vi “ly ông tôi bi này”, t bc l mình là đng phm.

Do đó vic Bc Triu Tiên đ ngh tham gia điu tra là mt cơ hi tri cho đ có được mt cuc điu tra công bng dn đến mt kết lun công bng. Thành th vic Hàn Quc bác b đ ngh theo tôi là thin chí này không nhng đy vic gii quyết v vic vào thế bế tc mà nguy him hơn, gia tăng s đi đu ca Bình Nhưỡng đến mc không ai có th kim soát.

Tóm li, bng mi giá Hi đng Bo an phi vch ra được th phm đánh chìm tàu Cheonan không ch đ trng tr theo công pháp quc tế mà còn đ phòng nga mt cách có hiu qu nhng v tương t th xy ra trong tương lai. Còn nếu t chc quyn lc nht thế gii này không làm được như vy thì điu này s to ra tin l xu, vô cùng nguy him ngay c và trước hết đi vi Bc Triu Tiên. Thc vy, nước này làm sao có th kêu ai nếu tàu chiến ca h cũng b đánh chìm mt cách vô c như đã xy ra vi Cheonan!

VOA: Ông có nhn xét gì v lp trường ca Hoa Kỳ trong v Cheonan, thưa Tiến sĩ?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Đáng tiếc là Hoa Kỳ không có lp trường nht quán trong v này khi va cáo buc Bc Triu Tiên gây ra v Cheonan va tuyên b đây “không phi là hành vi khng b quc tế” cũng như không có tuyên b nào coi đây là hành vi chiến tranh ca Bình Nhưỡng, trong khi tàu chiến b đánh chìm ch có th là sn phm hoc ca chiến tranh hoc ca hot đng khng b ch không th ca cái gì khác!

Tóm li theo tôi Hoa Kỳ cn thay đi thái đ, tuyên b dt khoát vic Bc Triu Tiên phóng ngư lôi đánh chìm tàu chiến Cheonan ca Hàn Quc là hành vi chiến tranh và yêu cu Hi đng Bo an x lý.

Mc du vy, điu quan trng hơn rt nhiu là phi ln cho được nguyên c gì khiến Bình Nhưỡng có th hành x mt cách nguy him và ngo mn đến như vy.

VOA: Theo Tiến sĩ, do đâu mà Bc Triu Tiên có li hành x hiếu chiến đến như vy?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Hi tc tr li, chính Trung Quc – ch không phi ai khác – “chng lưng” Bc Triu Tiên làm v này.

Thc vy, vn đ không ch là vi tư cáchy viên thường trc Hi đng Bo an Liên Hip Quc Trung Quc hoàn toàn có th bo đm cho Bc Triu Tiên thoát khi s lên án và trng pht ca Liên Hip Quc như thc tế đã din ra mà là ch Bc Kinh thông qua Bình Nhưỡng thách thc M v quân s Tây Thái Bình Dương.

Tóm li, cn phi đt v Cheonan trong “h sơ Bc Kinh” theo đó v này ch “phép th” mnh m đu tiên ca Trung Quc đi vi đ tin cy ca M trong vic bo v đng minh quân s ca mình nói riêng, đ tin cy ca các liên minh quân s mà M là mt bên nói chung, nhm thc hin chiến lược “Trung Quc hóa Đông Á” bng vũ lc mà Bc Kinh hn đã hoch đnh cho thế k XXI này.

Điu rt cn lưu ý là tham vng lãnh th ca Trung Quc du hn chế Đông Á nhưng vì nước này là cường quc ht nhân cũng như 1/3 lượng hàng hóa thương mi quc tế và 50% s tàu ch du ca thế gii qua li trong khu vc nên chiến tranh xâm lược mà Bc Kinh tiến hành ti đây t nó mang tính toàn cu. Bt an ca thế gii thế k XXI chính là ch đó.

Nói cách khác, an ninh thế gii mi ph thuc vào an ninh Đông Á.

VOA: Vy theo Tiến sĩ, làm thế nào đ hóa gii tham vng lãnh th ca Trung Quc Đông Á?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Đ có th chng li mt mi đe da quân s có tính toàn cu như Trung Quc tt không th “t lc cánh sinh” mà phi da vào liên minh quân s vi cường quc ht nhân khác. Tuy nhiên, như tôi đã tng đ cp trong mt cuộc phỏng vấn của VOA về tham vọng của Trung Quốc trong cuộc tranh chấp biển Đông, ch có Hoa Kỳ vi tư cách cường quc duy nht trên thế gii sn sàng đi mt vi Trung Quc v quân s mi có th giúp Vit Nam nói riêng, các nước trong khu vc Đông Á nói chung, gii ni bài toán an ninh lãnh th.

C th là liên minh quân s vi M s giúp Vit Nam khng đnh và bo v thành công ch quyn ca Vit Nam đi vi qun đo Hoàng Sa và qun đo Trường Sa

Tuy nhiên đ có th vô hiu hóa mt cách nhanh chóng và hiu qu nht các cuc tn công quân s t phía Trung Quc cn phi có mt tư duy phòng th mi trong khu vc.

VOA: Điu này rt quan trng, xin Tiến sĩ nói rõ thế nào là “tư duy phòng th mi”?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Các liên minh quân s song phương hin có gia Nht, Hàn Quc, Đài Loan, Phillippines, Thái Lan vi M là đ đi phó vi nhng nguy cơ ca thế k XX ch yếu bt ngun t ch nghĩa cng sn. Nói cách khác, s có mt quân s ca M các nước đó là nhm duy trì chính quyn s ti phi cng sn hay nói cách khác, mang tính cht đi ni, “nhà ai ny lo”.

Nay thì nguy cơ khác hn, bt ngun t tham vng lãnh th ca Trung Quc mà đ hin thc hóa, nước này s dng chiêu “gii quyết tranh chp trên cơ s song phương” hay “chia đ tr”. Vy đ hóa gii thành công chiêu “chia đ tr” thì “kế liên hoàn”t là thượng sách. C th là phi t chc phòng th tp th trên cơ s liên kết các liên minh quân s sn có và s có vi M trong đó liên minh quân s Vit – M là không th thiếu.

Tôi tm gi t chc phòng th mi này là Phòng th chung Đông Á (EACD – East Asia Common Defense).

VOA: Ti sao ông li qu quyết rng liên minh quân s Vit – M là không th thiếu trong hình thái phòng th chung chng li đe da xâm lược t phía Trung Quc, thưa Tiến sĩ?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Đơn gin là Vit Nam là nước có kinh nghim dày nht và thành công nht trong kháng chiến chng xâm lược Trung Hoa và kinh nghim này mt khi chia s chc chn s rt hu ích cho phòng th ca các nước khác cũng trong “tm ngm” ca Trung Quc.

Thc tình mà nói, Vit Nam là nước Trung Quc s phi giao chiến nht.

VOA: Liu có tr ngi gì không khi Vit Nam liên minh quân s vi Hoa Kỳ, đi tượng mà Hà Ni coi là “xâm lược” trong cuc chiến tranh Vit Nam, thưa Tiến sĩ?

Tiến sĩ Cù huy Hà Vũ: Đ cu nước thì dù có phi liên minh vi qu d cũng vn phi làm. Vi Hip đnh 6 tháng 3 năm 1946 H Chí Minh chng đã “rước” quân Pháp lăm le tái chiếm Đông Dương t min Nam ra min Bc Vit Nam đ thay thế 20 vn quân Trung Hoa Dân quc chng phi là bài hc ln đó sao?

Thành th liên minh quân s vi cu thù hay “quân xâm lược” trong quá kh đ bo v Đc lp và Ch quyn lãnh th quc gia đâu có phi là vn đ!

Hung h quân đi M trong cuc chiến tranh Vit Nam không phi là nhng k xâm lược. Thc vy, “xâm lược” là hành vi xâm chiếm lãnh th ca nước khác trong khi cuộc chiến mà Mỹ đã tiến hành ở Việt Nam là nhm đánh chn ch nghĩa cng sn ch không nhm mc đích chiếm đt. Nói cách khác, cuc chiến ca M Vit Nam là cuc chiến “ý thc h.

Tương t như vy, nếu mc đích ca M trong cuc chiến tranh Triu Tiên nhng năm đu thp k 50 ca thế k trước là lãnh th ch không phi đ chng “cng sn hóa” bán đo này thì không loi tr lá c ca Hp chng quc Hoa Kỳ đã thêm mt ngôi sao thay vì Hàn quc bây gi.

V li, nếu Ban lãnh đo cng sn Vit Nam khăng khăng tiến hành chiến tranh trên lãnh th nước khác là “xâm lược” đ duy trì quan đim “M xâm lược Vit Nam” thì cuc chiến 10 năm ca Vit Nam Căm Pu Chia, t 1979 đến 1988, phi được gi là gì?!

Nói cách khác, quan đim “M xâm lược Vit Nam” thc s “hết thiêng” vi vic quân đi Vit Nam đánh thng vào Phnompenh đ lt đ chế đ dit chng ca “cu đng chí” Khmer Đ.

VOA: Mi đây khi tr li báo chí phng vn v Hi ngh Shangri-La Singapore, B trưởng Quc phòng Phùng Quang Thanh tuyên b: “Không đ các lc lượng xu s dng vn đ Bin Đông đ kích đng, chia r quan h Vit Nam-Trung Quc, chia r quan h gia Đng, Nhà nước vi nhân dân Vit Nam”. Phi chăng đây li là tr ngi khác cho vic Vit Nam và Hoa Kỳ tr thành đng minh quân s ca nhau, thưa Tiến sĩ?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Hoàn toàn không phi như vy, ngược li là đng khác.

Th nht, phi khng đnh rng không có đng phái chính tr nào, không có Nhà nước nào, không có nhân dân nào phi quc gia và không có quc gia nào li có th tn ti không trên lãnh th c th. Do đó bo v ch quyn lãnh th chính là bo v quc gia, tc bo v li ích ca nhân dân và mi th chế chính tr tn ti trong quc gia đó. Nói cách khác, không bo v được lãnh th là mt hết!

Vì vy, không th có chuyn ngược đi là hy sinh lãnh th đây là ch quyn ca Vit Nam trên bin Đông bao gm Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quc li có th bo v được li ích ca đng phái chính tr, Nhà nước hay nhân dân Vit Nam.

Th hai, phi nói thng là quan h “đng chí” hay quan h “hu cơ” phi bo v bng mi giá gia Đng Cng sn Vit Nam và Đng Cng sn Trung Quc đã không còn lý do tn ti.

Thc vy, mc đích ca ch nghĩa cng sn là tiêu dit ch nghĩa tư bn và xây dng mt thế gii phi quc gia. Thế nhưng có l tr thi kỳ trước khi nm chính quyn, c Đng Cng sn Vit Nam ln Đng Cng sn Trung Quc không đng nào còn công khai “chí hướng” xây dng mt thế gii phi quc gia và hin nay thì c hai đng không nhng loi hn “đu tranh giai cp” ra khi cương lĩnh ca đng mà ngược li, hi h thc hành ch nghĩa tư bn như th ly li thi gian đã mt!

Th ba, nếu các chính khách như quan chc Đng Cng sn hay Chính ph Vit Nam mà tuyên b như vy thì hn nhiên đó là li l ca nhng k phn bi T quc và vi loi người này mà bàn tính liên minh quân s vi nước ngoài đ bo v T quc thì qu tht hơn c nho báng, là mt s s nhc!

Tuy nhiên đây là phát ngôn ca mt tư lnh quân s mà phép quân thì được quyn nói di, được quyn “nói mt đng, làm mt no”, mà theo binh pháp Tôn T là chiêu “Dương Đông kích Tây”. Nghĩa là phát ngôn trên ca Tướng Phùng Quang Thanh nhm che giu n lc ngày mt gia tăng ca quân đi Vit Nam trong vic chng li him ha xâm lăng t Trung Quc mà liên minh quân s vi M dù mun hay không vn là s la chn hàng đu.

V phía Ban lãnh đo Bc Kinh, tôi cho rng h, nht là vi tư cách hu du ca Tôn T, không d gì mc kế “Dương Tây kích Đông” ca tướng lĩnh Vit Nam nhưng cũng không d gì thoát khi như lch s chiến tranh gia hai nước đã chng minh.

VOA: Như Tiến sĩ đã nói, liên minh quân s vi M là đ cu nước, c th và trước mt là đ bo v ch quyn ca Vit Nam đi vi qun đo Hoàng Sa và qun đo Trường Sa. Thế nhưng vào năm 1958, Th tướng Vit Nam Phm Văn Đng đã gi cho Th tướng Trung Quc Chu Ân Lai Công hàm coi như tán thành Tuyên b ca Trung Quc v lãnh hi ca Trung Quc, bao gm c qun đo Hoàng Sa và Trường Sa, mt s kin b nhiu người Vit coi là “bán nước”. Vy ý kiến ca Tiến sĩ v Công hàm này như thế nào?

TS Cù Huy Hà Vũ: Năm 1979 trong Tuyên b v qun đo Hoàng Sa và qun đo Trường Sa B Ngoi giao Vit Nam đã khng đnh s din gii ca Trung quc v văn bn ngày 14 tháng 9 năm 1958 ca Th tướng nước Vit Nam dân ch cng hòa như mt s công nhn ch quyn ca phía Trung quc trên các qun đo là mt s xuyên tc trng trn khi tinh thn và ý nghĩa ca bn văn ch có ý đnh công nhn gii hn 12 hi lý ca lãnh hi Trung Quc. Biên niên các hot đng đi ngoi ca Th tướng Phm Văn Đng trong sách Phm Văn Đng và Ngoi giao Vit Nam do B Ngoi giao Vit Nam biên son năm 2006 đã không lit kê văn kin này.

Ngoài ra có ý kiến cho rng Công hàm không th có giá tr vì được ký vào Ch nht, tc không phi nhim s.

Thế nhưng phn đi cách din gii ca Trung Quc, dùng tiu xo hay giu nhm Công hàm đu không phi là cách đ rũ b văn kin ngoi giao tai hi này. Theo tôi cách duy nht đ làm vic này là chng minh Công hàm không có giá tr v mt pháp lut.

VOA: Mun chng minh thì phi chng minh như thế nào, thưa Tiến sĩ?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Công hàm ngày 14 tháng 9 năm 1958 ca Th tướng Phm Văn Đng là vô hiu vi ba căn c sau:

Mt là, Chính ph Vit Nam dân ch cng hòa không có thm quyn đàm phán v lãnh th.

Hip đnh Genève 1954 đã chia ct tm thi Vit Nam làm hai ti vĩ tuyến 17 và d kiến s chia ct tm thi đó s được xóa b vào năm 1956 sau khi tng tuyn c được tiến hành trên toàn lãnh th Vit Nam bu ra được mt Quc hi thng nht và trên cơ s đó đnh ra được mt Chính ph thng nht.

Như vy, c Chính ph Vit Nam dân ch cng hòa min Bc ln Chính ph Quc gia Vit Nam và tiếp đó ni các Vit Nam cng hòa min Nam đu là nhng chính quyn tm thi nên theo công pháp quc tế không có thm quyn đàm phán lãnh th vi nước ngoài. Nói cách khác, ch Chính ph ca mt nước Vit Nam thng nht mi có thm quyn đó.

Thế nhưng như chúng ta đã thy, Chính ph Cng hòa xã hi ch nghĩa Vit Nam vi tư cách Chính ph ca nước Vit Nam thng nht, hơn thế na, vi tư cách Chính ph Vit Nam duy nht được Liên Hip Quc công nhn, chưa bao gi công nhn Hoàng Sa và Trường Sa thuc ch quyn ca Trung Quc, mà ngược li, luôn khng đnh hai qun đo này là lãnh th không th tách ri ca Vit Nam.

Hai là, ngay c cho rng Chính ph Vit Nam dân ch cng hòa là Chính ph ca nước Vit Nam thng nht thì Công hàm này cũng không my may có giá tr pháp lý vì Công hàm này chưa bao gi được trình Quc hi xem xét và phê chun.

Thc vy, theo thông l quc tế, mi cam kết quc tế ca Chính ph, ca Th tướng hay ca người đng đu Nhà nước ch giá tr pháp lý hay có hiu lc thi hành nếu cam kết được Quc hi phê chun. Nói cách khác, Công hàm ch dng li mc phn ánh quan đim ca cá nhân Th tướng Phm Văn Ðng hay ca Chính ph.

Ba là, Công hàm không có giá tr vì bn thân Tuyên b ngày 4-9-1958 ca Chính ph Trung Quc v lãnh hi ca Trung Quc hoàn toàn không có giá tr đi vi qun đo Hoàng Sa và Trường Sa.

Thc vy, Trung Quc chưa bao gi ph nhn dưới bt c hình thc nào ch ký ca Th tướng Chu Ân Lai ti văn bn Hip đnh Genève 1954 công nhn Chính ph Quc gia Vit Nam được quyn qun lý qun đo Hoàng Sa và qun đo Trường Sa.

VOA: Đ kết thúc, Tiến sĩ có thông đip nào nhn gi Din đàn khu vc ASEAN va chm dt?

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ: Đng hành quân s vi Hoa Kỳ là mnh lnh ca thi đi vì mt an ninh thế gii mi đến t Đông Á.

VOA: Xin trân trng cm ơn Tiến sĩ Lut Cù Huy Hà Vũ v s mnh m và sâu sc trong quan đim cũng như v thi gian mà ông đã dành cho VOA trong cuc phng vn này.

Theo VOA

Sự thật về công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng

Việc Trung Quốc diễn giải nội dung Công hàm ngày 14/9/1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng như là một chứng cứ cho thấy Việt Nam đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là hết sức phiến diện và xuyên tạc nội dung, ý nghĩa của bản Công hàm đó, hoàn toàn xa lạ với nền tảng pháp lý của Việt Nam cũng như luật pháp quốc tế, bất chấp thực tế khách quan của bối cảnh lịch sử đương thời.

Có thể nói, giải thích xuyên tạc Công hàm 1958 là một trong chuỗi những hành động có tính toán nhằm tạo cớ, từng bước hợp thức hóa yêu sách chủ quyền phi lý của họ đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.

Theo lý giải của Trung Quốc, ngày 4/9/1958, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai đã công khai tuyên bố với quốc tế quyết định của Chính phủ Trung Quốc về hải phận 12 hải lý kể từ đất liền của Trung Quốc và các đảo ngoài khơi, bao gồm cả quần đảo Tây Sa và Nam Sa (tức quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam).

Sau đó, ngày 14/9/1958, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) Phạm Văn Đồng gửi Công hàm cho Thủ tướng Chu Ân Lai, nguyên văn như sau:

“Thưa Đồng chí Tổng lý,

Chúng tôi xin trân trọng báo tin để Đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.

Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trên mặt biển. Chúng tôi xin kính gửi Đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng”.

Cần phải thấy rằng, các tuyên bố nói trên của Trung Quốc cũng như của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời trong bối cảnh có nhiều chuyển biến phức tạp và cấp bách đối với Trung Quốc về tình hình lãnh thổ trên biển theo luật pháp quốc tế cũng như diễn biến căng thẳng của vấn đề quân sự xung quanh eo biển Đài Loan.

Năm 1956, Liên Hợp Quốc bắt đầu tiến hành các hội nghị quốc tế bàn về Luật Biển, sau đó một số hiệp định được ký kết vào năm 1958, tuy nhiên vẫn chưa làm thỏa mãn yêu sách về lãnh hải của một số quốc gia.

Bối cảnh xuất hiện công hàm

Từ đầu thế kỷ 20, nhiều quốc gia đã bắt đầu chú ý tới nguồn lợi to lớn từ khoáng sản và tài nguyên biển, bộc lộ ý đồ mở rộng chủ quyền trên biển. Trung Quốc, dù trong lịch sử ít quan tâm đến biển, cũng bắt đầu chú ý đến việc mở mang, kiếm tìm những đặc quyền trên biển. Mặc dù lúc đó chưa phải là thành viên của Liên Hợp Quốc, nhưng Trung Quốc cũng bắt đầu chú ý đến việc lên tiếng với cộng đồng quốc tế nhằm giải quyết các vấn đề trên biển theo hướng có lợi cho Trung Quốc.

Trong chiến lược cho tương lai, thì việc cạnh tranh trên biển, cũng như tìm kiếm những nguồn tài nguyên trên biển là một vấn đề được Trung Quốc đặt ra. Trên thực tế, cũng từ đầu thế kỷ 20, Trung Quốc đã hình thành ý định nhòm ngó các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.

Rõ ràng, việc nhòm ngó các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam từ thế kỷ 20 đã nằm trong chiến lược “lấn sân” của Trung Quốc về tham vọng mở rộng biên giới quốc gia trên biển.

Ngày 26/5/1950, chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, Tổng thống Hoa Kỳ Harry S. Truman đã ra lệnh cho Hạm đội 7 tiến vào eo biển Đài Loan, ngăn chặn cuộc tấn công của Trung Quốc nhắm vào các đảo trên eo biển Đài Loan. Với hành động này, Mỹ đã thực sự bảo hộ Đài Loan, mặc cho Trung Quốc kịch liệt lên án.

Để tỏ rõ quyết tâm giải phóng Đài Loan, ngày 3/9/1954, Trung Quốc đã tấn công trừng phạt đối với các hòn đảo ven biển như Kim Môn, Mã Tổ. Các nhà chép sử gọi đây là cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ nhất.

Ngày 11/8/1954, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai tuyên bố sẽ “giải phóng” Đài Loan, và tăng cường pháo kích vào hai đảo Kim Môn và Mã Tổ.

Ngày 12/9/1954, Chủ tịch Hội đồng Liên quân Hoa Kỳ đưa ra dự tính tấn công Trung Quốc bằng vũ khí nguyên tử nhưng Tổng thống Eisenhower đã do dự sử dụng vũ khí nguyên tử cũng như sự liên can của quân đội Hoa Kỳ vào cuộc chiến này.

Năm 1958, tiếp tục xảy ra cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ hai. Ngày 23/8/1958 Trung Quốc đột ngột tăng cường nã pháo vào đảo Kim Môn. Theo Hiệp định Phòng thủ tương hỗ giữa Đài Loan-Hoa Kỳ, Tổng thống Eisenhower đã ra lệnh cho tàu chiến Hoa Kỳ đến bảo vệ đường tiếp tế hậu cần từ đảo Đài Loan đến 2 đảo tiền tiêu Kim Môn và Mã Tổ.

Ngoài bối cảnh “phức tạp và cấp bách” đối với Trung Quốc như đã nêu trên, theo Thạc sĩ Hoàng Việt (Quỹ Nghiên cứu Biển Đông), Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng ra đời trong bối cảnh quan hệ đặc thù Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Trung Quốc lúc đó “vừa là đồng chí vừa là anh em”.

Năm 1949, bộ đội Việt Nam còn tấn công và chiếm vùng Trúc Sơn thuộc lãnh thổ Trung Quốc từ tay các lực lượng khác rồi trao trả lại cho Quân giải phóng Trung Quốc. Năm 1957, Trung Quốc chiếm giữ đảo Bạch Long Vĩ của Việt Nam từ tay một số lực lượng khác, rồi sau đó cũng trao trả cho Việt Nam.

Điều này cho thấy quan hệ đặc thù của hai nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Trung Quốc lúc bấy giờ. Do vậy, trong tình hình lãnh thổ Trung Quốc đang bị đe dọa chia cắt, cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ hai khiến Hải quân Hoa Kỳ đưa tàu chiến vào can thiệp, việc Trung Quốc ra tuyên bố về lãnh hải bao gồm đảo Đài Loan trước hết nhằm khẳng định chủ quyền trên biển của Trung Quốc trong tình thế bị đe dọa tại eo biển Đài Loan.

Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn không quên mục đích “sâu xa” của họ trên Biển Đông nên đã “lồng ghép” thêm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam vào bản tuyên bố. Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng xuất phát từ mối quan hệ rất đặc thù với Trung Quốc trong thời điểm Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đang rất cần tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của các quốc gia trong khối xã hội chủ nghĩa bấy giờ và là một cử chỉ ngoại giao tốt đẹp thể hiện quan điểm ủng hộ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong việc tôn trọng lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc trước các diễn biến quân sự phức tạp trên eo biển Đài Loan.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã phát biểu những lời ủng hộ Trung Quốc trong hoàn cảnh hết sức khẩn trương, chiến tranh chuẩn bị leo thang, Hạm đội 7 của Mỹ đang tiến vào eo biển Đài Loan và đe dọa Trung Quốc.

Nội dung Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng được thể hiện rất thận trọng, đặc biệt là không hề có việc tuyên bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Bởi, hơn ai hết, chính Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thấu hiểu quyền tuyên bố về lãnh thổ quốc gia thuộc thẩm quyền cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất là Quốc hội, và việc bảo vệ tòan vẹn lãnh thổ quốc gia luôn luôn là mục tiêu hàng đầu đối với Nhà nước và nhân dân Việt Nam, nhất là trong hoàn cảnh ra đời của Công hàm như đã nêu trên.

Công hàm 1958 có hai nội dung rất rõ ràng: Một là, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành việc Trung Quốc mở rộng lãnh hải ra 12 hải lý; Hai là, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chỉ thị cho các cơ quan nhà nước tôn trọng giới hạn lãnh hải 12 hải lý mà Trung Quốc tuyên bố.

Trong Công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng không có từ nào, câu nào đề cập đến vấn đề lãnh thổ và chủ quyền, càng không nêu tên bất kỳ quần đảo nào như Trung Quốc đã nêu.

Do vậy, chỉ xét về câu chữ trong một văn bản có tính chất ngoại giao cũng dễ dàng nhận thấy mọi suy diễn cho rằng Công hàm 1958 đã tuyên bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và coi đó là bằng chứng khẳng định Việt Nam đã thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo này là xuyên tạc lịch sử và hoàn toàn không có cơ sở pháp lý.

Việt Nam có chủ quyền không thể chối cãi với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Tại Hội nghị San Francisco 1951, các quốc gia tham dự đã bác bỏ yêu sách về chủ quyền của Trung Quốc trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Cũng tại hội nghị này, Việt Nam đã long trọng tuyên bố chủ quyền lâu đời và liên tục của mình trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong phiên họp toàn thể mà không có bất kỳ sự phản đối hay ý kiến gì khác của tất cả các quốc gia tham dự. Điều đó có nghĩa là kể từ năm 1951, cộng động quốc tế đã thừa nhận chủ quyền lịch sử và pháp lý của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Những tuyên bố đơn phương về chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo này theo luật pháp quốc tế là vô hiệu. Hiệp định Genève 1954, mà Trung Quốc là một nước tham gia chính thức, cũng thừa nhận chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về người Việt Nam. Các điều khoản trong Hiệp định cũng yêu cầu các quốc gia tham dự Hội nghị cam kết tôn trọng chủ quyền độc lập, nền thống nhất quốc gia và sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

Do vậy, phần tuyên bố về chủ quyền của Trung Quốc liên quan tới hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam trong bản tuyên bố ngày 4/9/1958 về cơ sở pháp lý quốc tế đương nhiên được xem là không có hiệu lực.

Trong Công hàm 1958, Thủ tướng Phạm Văn Đồng không hề đề cập đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Vì điều đó là không cần thiết, bởi theo Hiệp định Genève 1954, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm phía Nam vĩ tuyến 17 tạm thời thuộc quyền quản lý của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH).

Trong thời điểm đó, dưới góc độ tài phán quốc tế, thì Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không có nghĩa vụ và quyền hạn hành xử chủ quyền tại hai quần đảo này theo luật pháp quốc tế. Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đương nhiên chỉ tán thành những tuyên bố của Trung Quốc có nội dung hợp pháp được cộng đồng quốc tế thừa nhận trên cơ sở luật pháp quốc tế cho đến giai đoạn đó.

Một phần nội dung của bản tuyên bố ngày 4/9/1958 của Trung Quốc đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền quốc gia về lãnh thổ của Việt Nam, đồng thời cũng vi phạm nghiêm trọng các cơ sở pháp lý về chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà cộng đồng quốc tế đã thừa nhận cũng như đã nhiều lần tái thừa nhận một cách minh thị là thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong bối cảnh quan hệ hữu nghị rất đặc thù với Trung Quốc đã khẳng định lập trường ghi nhận, tán thành tuyên bố giới hạn 12 hải lý về lãnh hải của Trung Quốc, còn những nội dung cụ thể diễn giải vượt quá phạm vi chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc theo các hiệp ước quốc tế đã không được đề cập tới như là một sự mặc nhiên thừa nhận sự vô hiệu của nó dưới ánh sáng của pháp luật quốc tế.

Trong khi đó, Chính quyền Việt Nam Cộng hòa, theo Hiệp định Genève 1954, đã liên tục thực thi chủ quyền lâu đời của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bằng các văn bản hành chính nhà nước cũng như bằng việc triển khai thực thi chủ quyền thực tế trên hai quần đảo này.

Đỉnh cao của sự khẳng định chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong giai đoạn này là trận hải chiến quyết liệt của Hải quân Việt Nam Cộng hòa chống lại sự xâm lược của tàu chiến và máy bay Trung Quốc tại quần đảo Hoàng Sa năm 1974

Trong bối cảnh lịch sử đặc biệt nêu trên càng thấy rõ một sự thật hiển nhiên là Công hàm ngày 14/9/1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đơn giản chỉ ghi nhận lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc, không hề nhắc lại các nội dung mập mờ liên quan đến các quần đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Về thực chất, Công hàm 1958 thể hiện một thái độ chính trị, một cử chỉ hữu nghị với tuyên bố giới hạn lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc. Thực là phi lý, nếu cố tình suy diễn và xuyên tạc (như lập luận phía Trung Quốc), cho rằng Thủ tướng Phạm Văn Đồng, người con ưu tú của dân tộc, lại ký văn bản từ bỏ lãnh thổ và chủ quyền của đất nước trong khi chính ông và cả dân tộc Việt Nam đã chiến đấu hết mình để giành độc lập, tự do.

Có lẽ cần phải nhấn mạnh rằng tất cả những hành động ngoại giao của Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong Công hàm 1958 có thể hiểu không phải là ông không nhìn thấy mọi ý đồ của Trung Quốc đối với cách mạng Việt Nam vì ông đã có kinh nghiệm trong bàn đàm phán Genève năm 1954, khi mà Trung Quốc đã có không ít động thái rất bất lợi cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Nội dung Công hàm ngày 14/9/1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng phù hợp với hoàn cảnh và mối quan hệ đặc thù giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Trung Quốc bấy giờ, đồng thời cũng hàm chứa thái độ không bao giờ từ bỏ chủ quyền của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đó cũng là quan điểm nhất quán của Việt Nam, bởi từ năm 1945 đến nay, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Quốc hội Việt Nam Cộng hòa, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và sau đó là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và hiện nay là Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam chưa bao giờ lên tiếng hoặc ra nghị quyết từ bỏ chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Về thuyết “estoppel”

Một cơ sở nữa trên phương diện pháp lý, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lúc đó không trực tiếp quản lý đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Trước năm 1975, các quốc gia và lãnh thổ tranh chấp gồm: Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam Cộng hòa và Philippines. Như vậy, những lời tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa xem như lời tuyên bố của một quốc gia thứ ba không có ảnh hưởng đến vụ tranh chấp.

Tuy nhiên, có tác giả đã cố tình nêu thuyết “estoppel” để suy diễn những lời tuyên bố đó có hiệu lực bó buộc đối với Việt Nam.

Theo luật quốc tế, không có một văn bản pháp lý nào có thể gắn cho những lời tuyên bố đơn phương một tính chất bó buộc, ngoại trừ thuyết “estoppel”. Mục đích chính của nó ngăn chặn trường hợp một quốc gia có thể hưởng lợi vì những thái độ bất nhất của mình, và do đó, gây thiệt hại cho quốc gia khác.

Vì vậy, estoppel phải hội đủ các điều kiện chính:

(1) Lời tuyên bố hoặc hành động phải do một người hoặc cơ quan đại diện cho quốc gia phát biểu và phải được phát biểu một cách minh bạch;
(2) Quốc gia nại “estoppel” phải chứng minh rằng mình đã dựa trên những lời tuyên bố hoặc hoạt động của quốc gia kia, mà có những hoạt động nào đó, hoặc không hoạt động;
(3) Quốc gia nại “estoppel” cũng phải chứng minh rằng, vì dựa vào lời tuyên bố của quốc gia kia, mình đã bị thiệt hại, hoặc quốc gia kia đã hưởng lợi khi phát biểu lời tuyên bố đó;
(4) Nhiều bản án còn đòi hỏi lời tuyên bố hoặc hoạt động phải được phát biểu một cách liên tục và lâu dài. Thí dụ: bản án “Phân định biển trong vùng Vịnh Maine”, bản án “Những hoạt động quân sự và bán quân sự tại Nicaragua”, bản án “Ngôi đền Preah Vihear”..

Áp dụng những nguyên tắc trên của estoppel vào những lời tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chúng ta thấy thiếu điều kiện 2 và 3 đã nêu ở trên. Năm 1956, năm 1958 và năm 1965, Trung Quốc đã không có thái độ nào, hoặc thay đổi thái độ vì dựa vào lời tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trung Quốc cũng không thể chứng minh được rằng mình bị thiệt hại gì do dựa vào những lời tuyên bố đó. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng không được hưởng lợi gì khi có những lời tuyên bố đó.

Trong suốt quá trình thực hiện mưu đồ bá chủ trên Biển Đông, Trung Quốc đã không ít lần đưa ra các tài liệu xuyên tạc lịch sử, biến có thành không, biến không thành có, tung hỏa mù để cố tình làm sai lệch nhận thức của chính nhân dân Trung Quốc cũng như của cộng đồng quốc tế về vấn đề này theo hướng có lợi cho mưu đồ của Trung Quốc.

Tuy nhiên, trước những bằng chứng hiển nhiên của sự thật lịch sử và dưới ánh sáng của luật pháp quốc tế những hành vi xuyên tạc, tung hỏa mù, cố tình làm cho cộng đồng quốc tế ngộ nhận càng khiến cho Trung Quốc lộ rõ âm mưu cũng như thủ đoạn của họ trong suốt quá trình áp đặt ý đồ “nuốt trọn” Biển Đông, theo kiểu “miệng nói hòa bình không xưng bá, tay làm phức tạp hoá tình hình”. Tag: Tranh chấp biển Đông

Trương Nhân Tuấn – Cẩn trọng về hiệu lực pháp lý của các bản đồ

Dư luận Việt Nam hiện nay đang xôn xao về tấm bản đồ nước Trung Hoa xuất bản năm 1904, dưới thời nhà Thanh, mang tên “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ”. Bản đồ này vẽ lãnh thổ của Trung Quốc năm 1904 không có các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Mọi người vui mừng cho rằng đó là một bằng chứng rõ rệt chứng minh các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa không thuộc Trung Quốc.

Theo tôi, không có điều gì chắc chắn để vui mừng hết. Giả sử phía Trung Quốc đưa ra các bản đồ sau đây:

1/ Bản đồ thế giới do Bộ Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam xuất bản năm 1960. “Trên bản đồ này, quần đảo Nam Sa (Trường Sa) được đánh dấu là lãnh thổ Trung Quốc.”

Nguồn: VN công nhận chủ quyền của TQ? (BBC)

2/ Cục Bản đồ của Việt Nam xuất bản tấm bản đồ năm 1972, trong đó quần đảo Nam Sa được chú thích bằng tiếng Hoa, chứ không phải bằng tiếng Việt, tiếng Anh hay tiếng Pháp.”

Nguồn: Still Arguing (BeijingReview.com.cn)

Nếu hai tấm bản đồ này có thật, lúc đó phản ứng mọi người sẽ ra sao? Không lẽ bó tay chấp nhận Hoàng Sa và Trường Sa thuộc Trung Quốc?

Nếu không lầm, bản đồ 1904 của Trung Hoa, lãnh thổ nước này bao gồm nước Mông Cổ hiện nay. Nếu ta đi ngược thời gian xa hơn, các bản đồ nước Trung Hoa cũng không hề chú dẫn hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nhưng trong vài bản đồ lãnh thổ nước này bao gồm nước Việt Nam. Không lẽ phía Trung Quốc trưng tấm bản đồ này thì phải công nhận Việt Nam thuộc Trung Quốc?

Điều may là các tấm bản đồ thường không có giá trị quyết định trên quan điểm pháp lý.

Thật vậy, theo thông lệ công pháp quốc tế, “bản đồ” tự nó thường không được nhìn nhận như là một “bằng chứng” mà chỉ được xem như là một “tài liệu – information”, để bổ túc thêm cho một “lý lẽ – argument”, hay để khẳng định một “thái độ” nào đó của một bên tranh chấp.

Tấm bản đồ do Bộ Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam xuất bản năm 1960 và tấm do Cục Bản đồ của Việt Nam xuất bản tấm bản đồ năm 1972 tự nó không có giá trị pháp lý, (cũng như tấm bản đồ 1904 của nhà Thanh), nhưng nếu vấn đề tranh chấp Hoàng Sa và Trường Sa được đưa ra một tòa án quốc tế để phân giải, chắc chắn các tấm bản đồ này sẽ được phía Trung Quốc sử dụng nhằm vào việc làm rõ ý kiến của phía Việt Nam (nhìn nhận Hoàng Sa và Trường Sa thuộc Trường Sa) qua tuyên bố đơn phương 1958 (thể hiện qua tấm công hàm của ông Phạm Văn Đồng).

Nhiều vụ án về tranh chấp lãnh thổ do Tòa Án Công lý Quốc Tế (CIJ) phân xử, đa số các trường hợp các bản đồ được các bên trưng dẫn thì không được xem như là “bằng chứng” vì chúng không có tác động trực tiếp đến quyết định của các quan tòa. Yếu tố quyết định cho phán quyết của tòa luôn là “thái độ” của nhà nước đối với vùng lãnh thổ tranh chấp.

Một tấm bản đồ có giá trị pháp lý chỉ khi nó được đính kèm với các văn bản của một hiệp đinh phân định biên giới. Dĩ nhiên hiệp ước này phải còn hiệu lực (do việc không có hiệp ước nào khác ký kết sau này thay thế). Tuy vậy, nhiều trường hợp lịch sử cho thấy nhiều tấm bản đồ phân định biên giới đã không phù hợp với nội dung của công ước. Trong trường hợp này, theo thông lệ quốc tế, văn bản có hiệu lực “cao” hơn bản đồ. Một số trường hợp khác, bản đồ phân định, cũng như nội dung văn bản, cả hai đều không phù hợp với địa hình trên thực địa. Như trường hợp phân định biên giới giữa Pháp và nhà Thanh biên giới giữa Bắc Kỳ và các tỉnh Hoa nam năm 1887, hầu hết nội dung các biên bản phân định cũng như các bản đồ đính kèm đều không phù hợp với địa hình trên thực tế (xem thêm phần tham khảo). Trường hợp này, các công trinh phân giới sau này (1888-1897) cùng với bộ bản đồ vẽ trên kết quả cắm mốc, mới có giá trị thực sự. Tuy vậy, trong các hồ sơ chính thức hiện nay được lưu trữ trong các thư viện thế giới, đường biên giới Việt Trung 1887 chỉ thể hiện qua 3 trang mô tả sơ sài cùng với các bản đồ (hoàn toàn sai) đính kèm. Vì thế nhiều học giả trên thế giới đã có nhận định sai trong các công trình nghiên cứu vì chỉ dựa trên nội dung của công ước mà không tham khảo tài liệu giai đoạn phân giới.

Trường hợp đặc biệt cũng nên nói lại sau đây, là tranh chấp hai nước Thái Lan và Kampuchia về chủ quyền ngôi đền Preah Vihear. Nguyên nhân tranh chấp là tấm bản đồ đính kèm công ước vẽ không đúng với nội dung công ước. Theo tấm bản đồ (vẽ sai) này, ngôi đền thuộc về lãnh thổ Kampuchia trong khi nội dung văn bản xác định đường biên giới là đường phân thủy của một rặng núi. Trên tinh thần đó ngôi đền phải nằm trên lãnh thổ Thái Lan. Nội vụ tranh chấp được đưa ra Tòa án Công lý Quốc tế (CIJ). Lý ra, hiệu lực nội dung văn bản có giá trị cao hơn bản đồ, tức ngôi đền phải thuộc về Thái Lan, nhưng vì thái độ của nhà nước Thái Lan (về ngôi đền) trong nhiều thời kỳ đã khiến quan tòa phán quyết chủ quyền ngôi đền Preah Vihear thuộc về Kampuchia. Xét thấy trường hợp này (thái độ của nhà nước Thái) khá trùng hợp với thái độ của nhà nước VNDCCH và CHXHCNVN về chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa, người viết dẫn ra đây vài đoạn để mọi người cùng suy nghĩ cho tình trạng tranh chấp lãnh thổ giữa đất nước mình với Trung Quốc hầu kịp thời tìm kiếm một phương án giải quyết.

Tranh chấp hai bên Thái – Miên về ngôi đền Preah Vihear được đưa ra Tòa án Quốc tế ngày 6 tháng 10 năm 1959. Vụ án có mã số CIJ 65.

Vụ xử ngôi đền Preah Vihear xảy ra ngày 15 tháng 6 năm 1962. Những đoạn quan trọng được ghi lại như sau (nguồn CIJ):

Ngôi đền cổ Preah Vihear ở trong tình trạng hoang phế, tọa lạc trên một mỏm núi thuộc rặng Dangrek. Rặng núi này là biên giới giữa hai nước Thái Lan và Cambodge. Tranh chấp có nguyên nhân từ việc phân định biên giới bắt đầu từ năm 1904 đến năm 1908 giữa nước Pháp, đại diện Đông Dương, và nước Xiêm. Việc phân định này dựa lên công ước ngày 13 tháng 2 năm 1904. Công ước này đã thiết lập một cách tổng quát hướng đi đường biên giới. Đường này được xác định cụ thể bởi một ủy ban phân định hỗn hợp Pháp-Thái.Ở khu vực có ngôi đền Preah Vihear, (theo nội dung công ước) đường biên giới phải theo đường phân thủy. Ngày 2 tháng 12 năm 1906, một ủy ban hỗn hợp ra thực địa xác định đường phân thủy. Từ tháng giêng – tháng hai năm 1907, ủy ban Pháp đã báo cáo lên chính phủ của họ rằng đường biên giới đã hoàn toàn được phân định.

Việc cuối cùng của công trình phân định là vẽ bản đồ đính kèm. Nhà nước Xiêm, vì không có phương tiện lỷ thuật, đã yêu cầu nhân sự phía Pháp để thành lập các bản đồ vùng biên giới. Các bản đồ đã được một ê kíp người Pháp hoàn tất vào mùa xuân năm 1907. Một tấm bản đồ của công trình này được giao cho nhà nước Xiêm, theo đó đền Preah Vihear nằm trên lãnh thổ Khmer.

Tấm bản đồ đính kèm nói trên chưa bao giờ được công nhận bởi ủy ban hỗn hợp. Vì Ủy ban này đã ngừng hoạt động trước khi bản đồ được thiết lập. Tòa cho rằng, nguyên thủy, tấm bản đồ này không có tính bắt buộc. Nhưng trong hồ sơ phân định, bộ bản đồ đã chuyển lên chính phủ Thái như là kết quả của công trình phân định biên giới. Nhà cầm quyền Thái đã không có phản ứng nào (về các tấm bản đồ này) từ thời kỳ đó, cũng không có phản ứng nào trong nhiều năm sau. Do đó phải kết luận rằng nó đã được sự chấp nhận chính phủ Thái. Nếu phía Thái đã chấp nhận tấm bản đồ đính kèm mà không làm các cuộc nghiên cứu, thì bây giờ họ không thể vịn vào lỗi lầm này để làm vô hiệu điều mà họ đã chấp thuận.

Nhà nước Xiêm, sau đó là Thái Lan, chưa bao giờ đặt vấn đề về bản đồ đính kèm trước năm 1958, là lúc hai bên Thái và Cambodge đã mở những cuộc thuơng thảo về chủ quyền ngôi đền. Trong khi đó, vào các năm 1934-1934, một cuộc trắc địa đã cho thấy có sự khác biệt giữa đường phân thủy trên thực tế và đồ tuyến biên giới trên bản đồ. Một số bản đồ khác đã được thiết lập, trong đó đặt ngôi đền thuộc lãnh thổ Thái Lan. Nhưng phía Thái Lan vẫn tiếp tục sử dụng, thậm chí in ra, những tấm bản đồ theo đó ngôi đền Preah Vihear thuộc về phía Cambodge. Mặt khác, trong khoảng thời gian thuơng thuyết về hiệp ước Pháp – Xiêm 1925 và 1937, mà các hiệp ước này khẳng định hiệu lực của đường biên giới. Hay là vào năm 1947, trước ủy ban hòa giải Pháp – Xiêm tại Washington, đáng lẽ phía Thái đã đặt lại vấn đề chủ quyền ngôi đền, thì họ đã không làm gì cả.

Kết luận lại, như thế Thái Lan đã chấp nhận đường biên giới như đã vẽ trong bản đồ, cho dầu nó có phù hợp hay không phù hợp với đường phân thủy của rặng Dangrek.

Vì vậy, Tòa cho rằng, trong vùng tranh chấp, đường biên giới là đường xác định trên bản đồ và sẽ không cần thiết để tìm hiểu là đường biên giới này có phù hợp với đường phân thủy hay không.

Trở lại trường hợp Việt Nam. Ở đây ta thử so sánh thái độ của nhà nước Thái về chủ quyền ngôi đền Preah Vihear đã được tòa CIJ phân tích ở trên với thái độ của nhà nước VNDCCH (và các nhà nước kế thừa) về chủ quyền của hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

công hàm 1958 của chính phủ VNDCCH do thủ tướng Phạm Văn Đồng ký

Ta thấy nhà nước VNDCCH đã mặc nhiên đồng thuận chủ quyền của Trung Quốc tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa qua các động thái:

1/ Tuyên bố đơn phương qua công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng. Tuyên bố này ủng hộ “Tuyên bố về hải phận 12 hải lý của Trung Quốc”, trong đó mặc nhiên nhìn nhận việc “ủng hộ” hải phận 12 hải lý của các đảo thuộc Hoàng Sa và Trường Sa. Tức mặc nhiên nhìn nhận chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa thuộc Trung Quốc.

2/ Các bài báo trên Nhân Dân khẳng định chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa và Trường Sa. Các bản đồ của các cơ quan trực thuộc nhà nước VNDCCH (như hai tấm bản đồ dẫn trên) xác định chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa và Trường Sa.

Trên phương diện pháp lý, các bài báo trên Nhân Dân hay các bản đồ của Bộ Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam hay của Cục Bản đồ của Việt Nam đều không có giá trị pháp lý. Nhưng ở đây chúng có giá trị của “tài liệu – information” nhằm làm sáng tỏ nội dung tuyên bố đơn phương 1958 của Phạm Văn Đồng. Đối với công pháp quốc tế, các tuyên bố đơn phương có giá trị ràng buộc.

Mặt khác, nhà nước VNDCCH đã “im lặng” trước tuyên bố “chủ quyền không thể tranh cãi của Trung Quốc tại Hoàng Sa” vào tháng giêng năm 1974, vài ngày trước khi dùng vũ lực xâm lăng Hoàng Sa. Nhà nước VNDCCH cũng im lặng sau đó khi Trung Quốc dùng vũ lực xâm chiếm Hoàng Sa. Theo thông lệ quốc tế, hành động (xâm lăng Hoàng Sa của Trung Quốc) đòi hỏi hai miền Việt Nam phải có một thái độ. VNCH đã lần lượt biểu lộ nhiều động thái quan trọng nhằm phản đối hành động của Trung Quốc đồng thời khẳng định chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa trước các diễn đàn quốc tế. Thái độ im lặng của nhà nước VNDCCH có thể so sánh với sự “im lặng” lâu dài của nhà nước Thái về tấm bản đồ vẽ sai. Đó là sự im lặng “mặc nhiên đồng thuận”.

Ta thấy vấn đề chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa phức tạp và khó khăn hơn trường hợp của Thái về ngôi đền Preah Vihear. CHXHCNVN, nhà nước kế thừa của nhà nước VNDCCH, phải đối diện cùng lúc hai yếu tố pháp lý: 1/ tuyên bố đơn phương và 2/ mặc nhiên đồng thuận chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa và Trường Sa.

Chỉ cần một trong hai yếu tố này đủ để Việt Nam mất chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa.

Bộ Luật Biển 2012 của Việt Nam vừa công bố xác nhận chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một điều đúng và cần thiết. Bộ Luật này cũng xác nhận hiệu lực hải phận các đảo của Việt Nam đúng theo tinh thần Luật Quốc tế về Biển, cũng là một điều đúng và cần thiết. Đúng vì nó phù hợp với thực tế và lịch sử. Cần thiết vì nó làm gạch nối cho thế hệ tương lai. Nhưng nó chỉ có hiệu lực thực sự khi mà Trung Quốc từ bỏ chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa (qua một trọng tài phân xử).

Với một hồ sơ như thế người ta không ngạc nhiên khi nhà nước CSVN không dám đề nghị đưa tranh chấp Hoàng Sa và Trường Sa ra trước một trọng tài phân giải. Trong khi đó, với khả năng về quốc phòng đang lên, Trung Quốc có thể chiếm các đảo Trường Sa còn lại đang ở trong tay Việt Nam đồng thời dành phần lớn thềm lục địa và vùng biển Việt Nam theo bản đồ chữ U. Việc “ngư dân” Trung Quốc hiện nay một lúc 30 chiếc thuyền, cùng với các tàu hộ vệ của hải quân Trung Quốc, đang hoành hành đánh bắt hải sản ở các đảo thuộc Trường Sa làm người ta liên tưởng đến những ngày tháng giêng năm 1974, lúc sắp đánh Hoàng Sa. Ở đây, trước khi đánh, “ngư dân” Trung Quốc đổ bộ lên các đảo. Khi hải quân VNCH can thiệp thì hải quân Trung Quốc ra tay “bảo vệ”. Rất cỏ thể Trung Quốc sẽ lập lại phương pháp cũ.

Lúc đó, với một hồ sơ như thế, Việt Nam vô phương đòi lại Trường Sa (chứ đừng nói Hoàng Sa). Với sức mạnh và nhiều tiền trong tay, Trung Quốc muốn hoạch định biển với Việt Nam thế nào lại không được?

Vấn đề vì thế, cấp bách, là phải làm các thủ tục để kế thừa di sản VNCH để có một thế đứng chính thống trước quốc tế. Hiện nay chưa có nước nào chính thức công nhận chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa (kể cả Pháp). Với một hồ sơ như thế thì ai mà công nhận?

Trương Nhân Tuấn

Theo Danluan

Nghe ca khúc mới: Anh là vầng dương Độc lập – Tự do

https://chhv.files.wordpress.com/2011/04/110404112430_cu_huy_ha_vu_466x350_cuhuyhavu_nocredit.jpg?w=640

Nghe bài hát “Cù Huy Hà Vũ – người trí thức kiên trung”

Nhạc và lời : Nguyễn Văn Chính(Nguyễn Chính)
Thể hiện : Nguyễn Văn Chính

Advertisements
Bài này đã được đăng trong Bài vở liên quan và được gắn thẻ , . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Có 20 phản hồi tại GS Nguyễn Tiến Dũng – Vì sao Công Hàm năm 1958 của Phạm Văn Đồng không có giá trị ?

  1. cuhuyhavu viết:

    chung toi ko dung nguoi biet chu ma chi dung thuong binh co cong voi nuoc thoi ,de con chi dan den .gio day ko can my ma can nga ngo de bit bom nhan dan

  2. kiencang viết:

    Trong đảng, ngoài đảng, không phải là không có nhân tài, người tài trong đảng không phải là không có nhưng nhưng phần lớn đều bị thui chột, còn ngoài đảng thì người tài không được đoái hoài và thậm trí là còn chịu cảnh gièm pha, nói xấu và đe dọa tính mạng .
    Ví như, một chí sĩ trong đảng Trần Quang Cơ mà trí tuệ vượt trội-khiêm cung so với đảng của Lê Duẩn và Lê Đức Thọ, trong Hồi kí của mình đã tỏ ra đau xót vì VN đã bỏ lỡ cơ hội bình thường hóa quan hệ với Mĩ, một tri kỉ của Nguyễn Cơ Thạch khi ông nói quan điểm của tôi giống NCT về sai lầm Thành đô của đảng, và từ chối ghế Bộ trưởng Ngoại giao khi NCT bị cách chức. Một chí sĩ trong đảng Nguyễn Cơ Thạch với lời tiên tri long trời lở đất về một thời kì Bắc Thuộc Mới tủi nhục mà trí tuệ vượt trội-vượt trội so với đảng của Nguyễn Văn Linh và Đỗ Mười. Một chí sĩ ngoài đảng Cù Huy Hà Vũ với ý kiến về Công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng chưa được Quốc hội VN thông qua nên không có giá trị, và thông điệp cứu quốc long trời lở đất “Liên minh quân sự với Mĩ là mệnh lệnh của thời đại”, mà trí tuệ vượt trội-bùng nổ so với đảng của Nông Đức Mạnh và Nguyễn Tấn Dũng. Tiếc thay! Người tài trong đảng, một từ chối, một mất chức, người tài ngoài đảng chịu cảnh tù đầy oan ức mãi chưa thôi.
    Đây là lúc Chủ tịch nước có thể tha bổng cho tất cả các tù nhân nói thật, lương tâm, chính trị và tôn giáo, xin lỗi họ và gia đình họ, và đứng đầu khối đại đoàn kết dân tộc, nắm Quân đội, Công an và Ngoại giao, sẵn sàng trừ gian, diệt ác và giết hải tặc, bảo vệ các tấc đất còn lại và bằng mọi giá lấy lại các tấc đất đã mất của Tổ quốc.

  3. DÂN HÀ GIANG viết:

    MỜI XEM : ĐÃNG TA GIÃI PHÓNG CÔNG NÔNG :

    . VỤ HÀNỘI BUÔN NGUỜI KHŨNG KHIẾP TẠI MOSCOW

  4. Que huong viết:

    Neu den gio nay ma DCSVN con giam giu TS Cu Huy Ha Vu thi DCS VN dich thuc la mot nhom toi pham Mafia, nhung ke ban nuoc hai dan, nhung ten dao duc gia, tham lam, doc ac. That dung la Dang hen voi giac, ac voi dan. DCS hay quay dau lai trong khi con chua qua muon! Hay tha ngay TS Cu Huy Ha Vu va xin loi gia dinh TS Vu

  5. Thanh Le viết:

    vo cung thuong tiec CSVN….se lot vao tay TQ….

  6. Pingback: TIN NÓNG: BỘ NGOẠI G IAO VN ĐANG CHUẨN BỊ TRẢ LỜI KIẾN NGHỊ « LÀNG BÁO

  7. Pingback: TIN NÓNG: BỘ NGOẠI GIAO VN ĐANG CHUẨN BỊ TRẢ LỜI KIẾN NGHỊ | doivien_xu

  8. Phan Anh viết:

    GẤU NGA SẼ THỨC GIẤC
    Sau sự sụp đổ của Liên bang Xô Viết vào năm 1991, nước Nga đã rơi vào đà trì trệ và yếu kém trong hơn 20 năm. Mãi đến khi Yeltsin chuyển giao quyền lực cho người kế nhiệm Putin (1999), người ta mới thấy nước Nga lấy lại vị thế – nước lớn một thời. Nhưng để có ánh hào “chói lọi” như Xô Viết khi xưa, người Nga phải đợi đến tương lai và có lẽ thời gian sẽ không quá lâu?
    Link: http://dobatnhi.wordpress.com/2011/06/20/cuong-quoc-nga-se-thuc-giac/

  9. Khách viết:

    Hôm nay nó còn đưa 2 tàu Hải Quân đi thăm bọn bành trướng Bắc Kinh nữa, rõ là nhục ơi là nhục. Suốt ngày đi qua đi lại thấy tức tối không chịu được. Muốn lấy búa đập đầu bọn lãnh đạo này quá!

  10. nguyenhuuvien viết:

    Phạm Văn Đồng chỉ là tay sai BÁN NƯỚC theo lệnh TỔ SƯ Hồ Chí Minh để làm vừa lòng ĐẠI GIAN HÙNG bành trướng là MAO XẾNH XÁNG dam ngang nhiên ký công hàm bán đứng ĐẢO CHIẾN LƯỢC mà theo HCM chỉ là đảo chim YẾN Ỉ … A

    Đúng Hồ Chí Minh + Phạm Văn Đồng là hai thằng TỘI ĐỒ DÂN TỘC mà VIỆT SỬ sẽ xem chúng tội còn nặng hơn cả LÊ CHIÊ THỐNG !

    Cuối đời Phạm Văn Đồng hay lảng vảng nhà bác ruột tôi tại Phố Nam Ngư , Hà Nội …Cụ dã từ bỏ bao cuộc sống vật chất, từng sĩ quan Quân đội Pháp, từng cận thần và tổ chức tang lẽ cho Vua Hàm Nghi trở về tù đày , vượt ngục rồi ra Điện Biên từ anh lính trơn leo lên Đại úy QĐNDVN không bao giờ thèm vào Đảng mà cụ đã cùng bố tôi kết luận bọn CS Việt đã bán đứng Tổ Quốc từ lâu rồi ngay năm 1976 sau 31 năm anh em lại gặp nhau từ khi cả 2 còn bị tù đày tra tấn tại Hỏa Lò, Hà Nội ……..

    Gáo sư TÙ LÚ Hồng Phố Nguyễn Tiến Dũng ĐỪNG LẢM NHẢM tuyên truyền cho bọn CS Hà Lội bán Nuớc nữa như Gáo sư TÙ LÚ Hồng Phố (Học đại Toulouse, Pháp) đã bảo KHÔNG BAO GIỜ jamai s trên mồm lưỡi bò của HCM khi trả lời nữ phóng viên PHÁP !

    HCM là CÁI MÁY CÁI đẻ ra ĐCS VN và hơn 3.000.000 đảng viên MÁY CON ăn hại đái nát HẠI DÂN và CẢ ĐẾN BÁN NƯỚC là lũ 14 tên trong BỘ TRÍNH CHỊ chính EM đấy !!


    Ngay thằng bán Nước Lê Đức Anh và Đỗ Mười KHI QUA Tứ Xuyên KÝ HIỆP ƯỚC Thành Đô năm 1991 quỳ lạy làm CHƯ HẦU TÀU KHỰA chúng cũng nói Y HỆT « Tôi chủ tịT KHÔNG BAO GIỜ jamais never BÁN NƯỚC như HCM trong video !!!

    Ngay LÊ CHIÊU THỐNG sống dậy nó chúng cũng nói Y HỆT « Tôi Vua KHÔNG BAO GIỜ jamais never BÁN NƯỚC như HCM trong video !!!

    Chỉ cần chính sách SAI LẦM LỚN HCM đã làm thằng học trò TRUNG THÀNH hết mực với MAO XẾNH XÁNG và ngày nay HẬU QUẢ tai hại cái việc làm của HCM , GS Nguyễn Tiến Dũng ở HỒNG PHỐ phố hồng TOULOUSE nay lại viết bài CHẠY TỘI CHO Hồ Chí Minh + Phạm Văn Đồng là hai thằng TỘI ĐỒ DÂN TỘC mà VIỆT SỬ sẽ xem chúng tội còn nặng hơn cả LÊ CHIÊ THỐNG !

    Đúng là CÁI MÁC cái nhãn hiệu Gáo sư TÙ LÚ Hồng Phố (Học đại Toulouse, Pháp) PHẢI vất vào SỌT RÁC

    KHÔNG BAO GIỜ jamais never CÓ NGHĨA là BẤY GIỜ !

    Từ BẤY GIỜ ngày 2/9/1945 !

    Sự lừa bịp của kụ Hồ già Hồ ngay từ khi HCM đọc tuyên ngôn « độc lập » ngày 2/9/1945 tại Ba Đình !

    Người Việt HCM phản bội đó là cụ NGUYỄN HỮU ĐANG người xây dựng « sân khấu » cho HCM đọc tuyên ngôn « độc lập » ngày 2/9/1945 tại Ba Đình !

    Sự chọn lựa MAO XẾNH XÁNG làm sư phụ đã đưa Việt Nam vào biển máu , phân hận và chính HCM là MÁY CÁI đẻ ra một bầy hơn 3.000.000 đảng viên ăn hại hút máu bán Nước hôm nay !

    14 con heo BỘ TRÍNH CHỊ cũng trả lời y hệt như HCM KHÔNG BAO GIỜ jamais never nhưng nhìn mọi QUYẾT ĐỊNH mọi việc làm từ nhỏ đến lớn trong CHÍNH SÁCH chúng đều cúi đầu thần phục THIÊN TRIỀU !

    • TNT viết:

      Tất cả là nhờ ƠN ĐẢNG, ƠN BÁC.
      Nhờ ƠN ĐẢNG, ƠN BÁC mà đất nước ta hôm nay tham nhũng nhiều quá.
      Nhờ ƠN ĐẢNG, ƠN BÁC mà đất nước ta hôm nay mất đất nước quá.
      Nhờ ƠN ĐẢNG, ƠN BÁC mà đất nước ta hôm nay quan chức thất đức nhiều quá.
      Nhờ ƠN ĐẢNG, ƠN BÁC mà đất nước ta hôm nay quan chức hèn nhiều quá.
      Nhờ ƠN ĐẢNG, ƠN BÁC mà đất nước ta hôm nay xuất khẩu lao động nhiều quá.
      Nhờ ƠN ĐẢNG, ƠN BÁC mà đất dân ta hôm nay nghèo quá.

  11. HoangTuan viết:

    1)Luận điểm thứ 6 là sai bét. Về mặt hình thức, chính phủ từ trung ương đến địa phương đang được tổ chức chặt chẽ, đúng pháp luật. Ai nói không đúng thì phải dùng trí tuệ của mình phá đi cái hình thức đó, để lộ cái bản chất của nó. Đưa nó về đúng cái nội dung và hình thức đi. Đây là một đề tài dài dòng, hãy bàn sau vậy. Người ta vịn vào cái hình thức này mà làm hoài vì nó đúng mà. Vì vậy tiếng nói của ông PVĐ là tiếng nói chính thức cho đại diện VNDCCH thời bấy giờ. Cho dù QH chưa thông qua thì cũng là chính thức. Vì, PVĐ là 1 trong những đại diện hành pháp rồi. Chuyện thông qua QH là chuyện nội bộ, thông hay ko thông thì tiếng nói của PVĐ cũng là chính thức. Bởi vậy, những người đứng đầu phải là những người hết sức tôn trọng nhân dân, có trí tuệ, lời ăn tiếng nói có chừng mực. Không phải cứ hứng là nói. Vô trách nhiệm. Hãy phân tích tại sao PVĐ lại ra công hàm đó, để làm gì? ông ta im luôn cũng được mà???

  12. Bình Nam - Sài Gòn viết:

    Bọn bán nước. Lịch sử sẽ ghi lại hết.

  13. Pingback: GS Nguyễn Tiến Dũng – Vì sao Công Hàm năm 1958 của Phạm Văn Đồng không có giá trị ? | phamdinhtan

  14. Pingback: Điểm tin nổi bật hôm nay 20 – 06 – 2011 « TIN TỨC HÀNG NGÀY

  15. DÂN OAN viết:

    THAY ĐỔI CHẾ ĐỘ CS HIỆN NAY MỚI MAY RA THOÁT HIỄM
    TQ dùng bạo lực và lưà đảo với Hà nội giống hệt như nhà câm quyền Hànội đàn áp và lưà gạt dân mình.
    Đây không phải lần đầu TQ cắt giây cáp mà nhiều lần đã cắt từ năm ngoái như GS Carl Thayer nói. Sau nhiều đợt triều cống như Bản Giốc , Bauxít , Rừng đầu nguồn …xin tha Biễn
    Đông nhưng vô hiệu.Hà nội bó tay đành la lớn nên dân Việt mới biêt biểu tình.
    Các nuớc trong vùng đều kết hợp nhau để liên minh với Mỹ như Nhật, Nam Hàn và Úc Châu.
    Việt nam cần phải thay đổi chế độ cọng sản hiện nay bằng dân chủ để xích gần các nuớc Phi , Indonisia, Brunei
    và tạo cơ hội liên lết với Mỹ(chắc phải có điều kiện)

  16. ngoclinhvugia viết:

    GS Nguyễn Tiến Dũng quên mất một điều: đây là thỏa thuận giữa hai đảng cộng sản anh em, chính phủ VNDCCH chỉ là cơ quan thừa hành, điều này cả Ba Đình và Trung Nam Hải đều biết hẳn như thế. Năm 1991 tại Thành Đô, đảng CSVN đã ký kết những gì với đảng CSTQ ? Ai mà biết được bí mật này? Nếu không vì những bí mật giữa hai đảng thì Ba Đình rất dễ dàng sai khiến Quốc Hội bù nhìn Hà Nội ra một quyết nghị phủ nhận công hàm Phạm Văn Đồng rồi. Mà nói cũng tội cho vong linh ông Phạm Văn Đồng vì ông ta đã nói thật là ông ta đâu có quyền hành gì đâu, ký công hàm đó vì là trên danh nghĩa ông ta là thủ tướng, chứ còn thực chất quyền hành là ở chủ tịch đảng lúc bấy giờ là ông Hồ Chí Minh đó chớ. Tội lỗi nếu có là ở ông Hồ và Bộ Chính Trị đảng CSVN .

  17. Tác giả có thể đăng nguyên văn CÔNG HÀM Phạm văn Đồng năm 1958 được không ? Xin cám ơn trước !

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s