Nguyễn Hữu Nghiã – Nỗi sợ trong mắt ai

Lời thưa trước tiên, người viết muốn gửi đến đạo diễn Trần văn Thuỷ như một lời xin phép vì đã tự tiện lấy tựa đề phim “ Hà nội trong mắt ai “ (1) đổi thành “ Nỗi sợ trong mắt ai “ làm tựa đề cho bài viết này. Xin thưa là chỉ dùng tựa đề phim mà thôi, riêng phần nội dung bài viết lại cần đến một một lời xin phép khác.

Từ lâu, nghiã là từ năm 1974, khi đang là sinh viên năm thứ nhất ngành khoa học tự nhiên, tôi không lưu tâm đến những ngành khoa học khác, nhưng những thông tin la liệt trên các phương tiện truyền thông hàng ngày đã cho tôi thấy những tương quan xã hội có khả năng thúc đẩy xã hội liên tục chuyển biến. Ngành khoa học tự nhiên có lẽ không có chút dự phần nào trong việc thúc đẩy này khiến trong tôi nảy sinh nhiều thắc mắc. Tôi không biết hỏi ai, bạn bè trang lứa thì ấm ớ như nhau, cắm đầu cắm cổ học vì học hành lôi thôi là “ lên đường ” ngay, còn các giáo sư trong khoa, có lẽ các thày cô chỉ quan tâm đến chuyên môn của mình.

Nghĩ mãi mà không biết hỏi ai, tôi chợt nghĩ đến những nơi thâm nghiêm và trong một lần đến nhà sách DCCT mua vài tạp chí ưa thích, tôi đã đặt câu hỏi với vị Linh  mục đang đi dạo trong khuôn viên nhà dòng. Nhìn tôi với ánh mắt khích lệ, vị Linh mục cho biết là ngành khoa học tự nhiên chuyên tìm hiểu về thiên nhiên và những quy luật bất biến của nó, sự hiểu biết về ngành này giúp loài người biết sống thuận hòa với thiên nhiên một cách ý thức. Các học thuyết xã hội thì phát sinh từ các mối tương quan giữa con người với con người và con người với xã hội, nội dung của những tương quan này có thể khác nhau nơi những xã hội khác nhau, nó bị ảnh hưởng bởi những luồng văn hóa khác biệt, nó có thể đẹp hoặc xấu nhưng nó luôn luôn thay đổi theo suy nghĩ chủ quan của lòng người cũng như theo dòng thời gian.

Từ lời gợi ý của vị Linh mục, tôi bắt đầu tìm lời giải đáp cho chính mình từ các bài khảo luận, rồi lân la đến những tác phẩm của các nhân sĩ trí thức đương thời. Một loạt nhân sĩ đã để lại trong tôi những dấu ấn đậm nét qua cách nhìn và lý giải phong phú về cuộc sống. Họ cho tôi biết những gập ghềnh trong tiến trình suy tư của nhân loại, diễn tả những xung đột tư tưởng, cho tôi hiểu cội rễ của nỗi đau nhân thế, giúp tôi vạch một lộ trình cảm thông và chấp nhận đồng hành cạnh những nghịch lý của cuộc sống trĩu nặng ưu tư.

Ngày ấy, sau khi đọc bài “ Sống và Sợ “ được in trong tác phẩm “ Xã hội và Con người(2), tôi xin tri ân tác giả – Giáo sư Trần văn Toàn. Những năm tháng đã qua, tôi khốn khổ trong những hoàn cảnh bi thảm, nỗi buồn bã và sợ hãi bao vây dầy đặc đến mức không còn thiết tha đến sự sống, nhưng nhờ ông, tôi đã lớn lên cùng những trằn trọc về cuộc đời, tôi hiểu đúng về nỗi sợ và cố gắng vượt qua.

***

“Bao lâu còn đánh đấm và sợ hãi nhau, thì bấy lâu – như một triết gia đã quan niệm – người ta còn sống trong tiền sử, nghiã là chưa thực sự thành người”.

Nghe mà não nuột!

Trong thời kỳ loài người còn sống trong tăm tối, thiên nhiên là trở lực chính trên con đường phát triển. Một may mắn cần phải nhắc tới, đó là, thiên nhiên với những quy luật còn ẩn dấu đã rất hào phóng với loài người. Sự hào phóng liên tục tuôn tràn và càng hào phóng hơn nữa khi loài người mỗi ngày mỗi khám phá thêm những quy luật thiên nhiên kỳ bí. Các quy luật luôn chính xác và bất biến, vì thế, quy luật đã trở thành mẹ đỡ đầu cho khoa học thực nghiệm. Thiên nhiên không biết phản bội, tráo trở. Hơn thế nữa, thiên nhiên phô bày tính quân tử qua các tín hiệu báo trước để loài người cũng như một số loài khác có thể dự liệu mà né tránh hoặc đón nhận những gì sẽ xảy ra trong tương lai ngắn hạn.

Nỗi sợ hãi thiên nhiên khiến loài người xích lại gần nhau, hợp sức cùng nhau trong nỗ lực biến cải, chinh phục, bắt thiên nhiên đáp ứng nhu cầu tồn tại của bản thân và phải trả lời về sự giầu có phong phú của mình. Loài người, nhờ vào trí tuệ siêu đẳng, đã giải mã được những bí ẩn của thiên nhiên. Loài người và thiên nhiên hiểu nhau đến mức trở thành đôi tri kỷ. Với thời gian, thiên nhiên đã giảm thiểu vẻ huyền bí đáng khiếp hãi rồi mau mắn trở thành kho tàng vô tận cho loài người.

Mỗi khi vượt qua một chặng đường chinh phục, loài người được gia tăng sự hiểu biết đồng thời triệt tiêu được một phần nỗi sợ hãi. Cứ thế, loài người hiên ngang tiến lên. Sự hiểu biết ngày càng đa dạng, thái độ hợp tác cùng với ý chí quyết tâm là vũ khí quan trọng nhất giúp loài người can đảm vượt qua nỗi sợ hãi để chinh phục thiên nhiên hoang dã mênh mông.

Thật ra, loài người hiểu rằng tranh đấu với thiên nhiên chỉ là hành động đơn phương của mình vì thiên nhiên không hề có ý định tranh đấu, thiên nhiên chỉ vận hành theo các luật đã được quy định, thành ra loài người khi đã có những hiểu biết nhất định, thiên nhiên không còn là trở lực mạnh mẽ trên con đường khám phá, chinh phục, phát triển và thụ hưởng.

Cùng với sự sợ hãi thiên nhiên, loài người còn đối diện với một nỗi sợ khác – sợ đồng loại. Khi đã từng bước thủ tiêu được nỗi sợ thiên nhiên, loài người chỉ còn một nỗi sợ, thật đáng buồn khi nói rằng không nỗi sợ nào đáng sợ hơn nỗi sợ chính đồng loại của mình.

Khi bớt sợ thiên nhiên, mọi suy nghĩ dồn về nỗi sợ còn lại : sợ người không còn tử tế với nhau! Muốn biết người ta ăn ở có tử tế với nhau hay không, ta hãy xem người ta tổ chức phân chia của cải thế nào. Thật thế, cách thức phân chia của cải có thể coi như một cách nhận diện nhau dù không hẳn lúc nào cũng chính xác nhưng dẫu sao cũng là dấu hiệu để hiểu, giữa người với người, có hay không có sự tử tế.

Sự tử tế không hẳn luôn luôn đáng tin vì đôi khi nó là hình thức để mua chuộc hoặc che đậy sự bất công.

Bất công nào cũng mang mầu sắc chiếm đoạt, vì thế, nhiều khi phải có xung đột mới chịu nhìn nhận nhau và chấp nhận giải quyết những mâu thuẫn về quyền lợi. Và Marx, dù còn nhiều điều cần bàn cãi, nhưng ông cũng không phải là vô lý khi cho rằng, ở phương diện cá nhân, bình đẳng trước pháp luật chỉ là cái bình đẳng giả hiệu nếu không có bình đẳng về kinh tế (người xưa đã từng bảo “đa kim ngân phá luật lệ”). Ở góc độ quốc tế, thực tế cho thấy, dành được độc lập để có bình đẳng chính trị mà không có bình đẳng kinh tế đi kèm thì độc lập chỉ là giấc mộng đẹp trong giấc ngủ ngầy ngật. Xét cho thấu đáo, đó chẳng qua là một biến thể của sự lệ thuộc, và đấy là thân phận chung của hầu hết các quốc gia nghèo sau những nỗ lực độc lập đầy máu xương.

Để thiết lập và duy trì sự tử tế, quyền tư hữu đã được ghi nhận long trọng trong luật pháp, nó như một lời tuyên bố chung của một tập thể về sự bình đẳng giữa người với người, nhưng khổ thay, chính nó lại là bước khởi đầu cho những bất công hợp pháp (dù không hề hợp lý) nẩy nở một khi ngôn ngữ bị tung hứng hoặc bị tráo trở. Trong quy định của pháp luật, người dân chỉ có quyền sử dụng đất đai còn quyền sở hữu tập trung trong tay nhà nước, tức là quyền sở hữu và quản lý thuộc về và chỉ thuộc về nhà nước mà thôi, nhưng, thực tế cho thấy giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng là cả một trời cách biệt. Với cách tung hứng ngôn ngữ như vậy, toàn dân đã trở thành những người ở thuê, ở nhờ ngay trên mảnh đất chính cha ông họ đã gầy dựng bằng máu xương qua biết bao thăng trầm lịch sử.

Để có thể làm được điều đó, ngoài những luận điệu đã bị vứt vào sọt rác lịch sử, nhà nước còn vận dụng lý lẽ của Machiavel :

“….. một vương hầu không nên sợ mang tiếng là tàn ác, khi cần phải giữ thần dân trong đoàn kết và phục tùng……….” , và “……..vậy ta phải xác nhận hai phương cách đấu tranh, một dựa trên luật pháp, hai dựa vào sức mạnh. Phương cách thứ nhất phù hợp với bản tính của loài người, phương cách thứ hai có tính cách thú vật. Nhưng trong cuộc đấu tranh, phương cách thứ nhất thường không đủ hiệu lực nên phải sử dụng phương cách thứ hai. Vị Chúa phải biết sử sự vừa như con vật vừa như thằng người….”

Và bỏ ngoài tai lời Machiavel khuyên : “ Tránh để dân ghét và khinh bỉ.” (3)

Thế là đã rõ, để củng cố việc cai trị, thay vì làm cho dân thương, nhà nước đã làm cho dân sợ. Cái sợ ấy được nhà nước khai triển qua các chiến dịch như cải cách ruộng đất, nhân văn giai phẩm, đánh tư sản, trưng thu tài sản…….qua các thủ tục hành chánh như hộ khẩu, tem phiếu……qua các thủ đoạn như bắt tập trung cải tạo, bắt nóng, bắt nguội, bắt giữa đêm khuya, chụp mũ, giả mạo chứng cứ, dàn cảnh tai nạn……qua các kỹ thuật như cắt xén, lồng ghép câu nói, văn bản hoặc hình ảnh……….. miễn sao cho dân sợ và hoang mang là được rồi, còn những hành vi như bỏ rơi đồng bào, tham nhũng, hối lộ, buôn dân bán nước….. bị dân khinh bỉ cũng không sao miễn là dân vẫn còn sợ !

Không chỉ người dân sợ nhà nước mà người của nhà nước cũng sợ nhà nước. Cựu đảng viên lão thành Nam bộ Nguyễn Văn Trấn đã kể lại trong cuốn Viết Cho Mẹ Và Cho Quốc Hội nơi trang 303: “ Nè nghe má, có lần anh chị em Nam bộ biểu tôi đến gặp ông già Tôn mà hỏi, tại sao ổng để cho cải cách ruộng đất giết người như vậy? Bác Tôn đang ngồi, nghe tôi hỏi, liền đứng dậy bước ra khỏi ghế, vừa đi vừa nói : “ ĐM, tao cũng sợ nó, mầy biểu tao còn dám nói cái gì ?”.

Ngay như nghệ sĩ tuyệt vời như nhà văn Nguyễn Tuân cũng kinh hoàng. Sau khi Nguyễn Tuân chết, nhà phê bình Nguyễn Minh Châu kể lại, một hôm nhà văn Nguyễn Tuân râu tóc run rẩy, nước mắt tràn ra trên má trên môi, vừa khóc vừa nói “…mình tồn tại được cho tới nay là bởi biết sợ!”.(4)

Những hình ảnh nhân viên nhà nước vừa làm cho dân sợ vừa khiến cho dân khinh đầy rẫy trên các mạng thông tin, từ việc bịt miệng Lm Nguyễn Văn Lý, lấy chân đạp vào mặt anh Nguyễn Chí Đức, quật ngã anh Phan Nguyên, lùa những người bị bắt lên xe buýt vì tham gia biểu tình……cùng với những tuyên bố chưa ráo nước bọt đã nuốt lời, những im lặng khó hiểu, những hành vi mờ ám càng lúc càng nhiều chỉ nhằm mục đích trấn áp và làm gia tăng nỗi sợ nơi người dân.

Loài người đã đặt chân lên mặt trăng, và một ngày không xa nữa, sẽ để lại kỳ tích trên những hành tinh xa xôi trong thái dương hệ. Thế mà, như quan niệm nêu trên, loài người vẫn chưa có vinh dự thực sự thành người!

Quan niệm trên đúng hay chưa đúng ? Nếu đúng thì liệu rằng nhân loại có thủ tiêu được đánh đấm và sợ hãi nhau không ? Từ thời đại này qua thời đại khác, thời kỳ này đến thời kỳ kia, các nhà tư tưởng đưa ra bao nhiêu là học thuyết, các ý thức hệ liên tiếp bùng nổ và hùng hồn đòi cải thiện thân phận con người, mà sao loài người dường như vẫn chưa thực sự thành người? Phải chăng đòi hỏi thủ tiêu đánh đấm và sợ hãi nhau là điều không tưởng, hay ta đã bi thảm hoá thân phận loài người ? Không hề. Thân phận bi thảm của loài người hoặc của đa số nhân loại là điều có thật. Suy đi nghĩ lại, điều kiện tiên quyết để con người thực sự là người có lẽ chính cái cách cư xử tử tế với nhau.

Nhưng con người là loài sống bầy đàn, vì thế không ai có thể sống một mình và dĩ nhiên cũng không thể thành người thực sự một mình. Xã hội đành phải dàn xếp những quy tắc để cho người bớt sợ người, người sống được với người. Đó có lẽ là một trong những lý do giải thích sự ra đời của luật pháp, nhưng, những luật pháp đầu tiên của nhân loại được lập ra không do và không vì kẻ yếu. Lịch sử cho thấy là phải trải qua một thời gian rất lâu, với sự can thiệp của nhiều tổ chức tôn giáo, xã hội, với những tranh đấu liên tục kể cả đổ máu, luật pháp mới có được mầu sắc nhân bản cùng với sự thực thi nghiêm chỉnh. Cho đến nay, ở một số rất ít quốc gia còn lệ thuộc vào một ý thức hệ lầm lạc, cách hành xử của chính quyền cho thấy rằng họ đối xử với người dân không khác lắm so với thời kỳ xa xưa.

Xã hội mỗi ngày mỗi tiến lên trên mọi nẻo đường phát triển, cuộc sống thực tế làm nẩy sinh những quan niệm nhân sinh khác nhau.  Ta có quyền ca tụng các quan điểm phù hợp với ta nhưng ta vẫn phải chấp nhận các phê phán, các chỉ trích hợp lý và nhất là không bao giờ áp đặt người khác phải chấp nhận điều mà họ không thích hoặc cảm thấy không phù hợp. Chính sự tôn trọng những khác biệt đó khiến cho tư tưởng mang mầu sắc xã hội, tức là tính cách phổ biến.  Chính tính cách phổ biến của tư tưởng sẽ đem đến cho xã hội một không khí tự do, nơi đó, mọi tư tưởng được cọ sát nhau, các khác biệt được thảo luận, mổ xẻ. Dù phải bước đi từng bước vô cùng khó khăn, nhưng có lẽ chỉ có cách đó cùng với sự tử tế đích thực nhân loại mới hy vọng xích lại gần nhau.

Chỉ khi đối chiếu với các quan niệm khác cách thành thật, chúng ta mới có cơ may nhận ra sự khiếm khuyết to lớn nơi những điều mình đã tin tưởng, mà đôi khi, vì tự ái, cố chấp hoặc vì bảo vệ quyền lợi cho tập thể hoặc cá nhân, chúng ta cứ giả vờ tin và cưỡng buộc người khác phải tin theo, dẫu biết là họ cũng nhắm mắt giả vờ tin như mình, rằng trong nước ta, mọi tổ chức, mọi công dân đều bình đẳng, rằng không hề có thảm trạng nhà nước đè nén, áp chế người dân bằng cách biển thủ hay chơi chữ (hoặc chơi cha) trên một số quyền căn bản. Chỉ khi có sự va chạm, mới hy vọng người ta biết hồi tưởng và chịu nhìn nhận nhau đồng thời xác lập và nghiêm chỉnh thực thi những tiêu chuẩn về các quyền, kể cả các quyền về tư tưởng, ngôn luận, tín ngưỡng….

Một cách nữa nhằm giúp chúng ta thủ tiêu được nỗi sợ là phải can đảm vượt lên trên nỗi sợ.

Đừng sợ, hỡi những con người bé nhỏ giữa thế gian, yếu ớt và nghèo khổ.

Đừng sợ, hỡi những người đang thất bại giữa giòng đời, những con người bị bỏ rơi, những con người bị loại trừ.

Đừng sợ, hỡi những con người bị sa cơ thất thế, bị phản bội, bị thù hằn ghen ghét.

Đừng sợ, hỡi những con người nạn nhân của bạo lực, của lừa dối, của gian xảo.

Đừng sợ, hỡi những con người bị xúc phạm, bị tổn thương, bị ruồng rẫy (5).

Để can đảm vượt qua nỗi sợ, điều kiện tiên quyết là phải có tình yêu và lòng thương xót.

Ông Kim Ngọc, vì lòng thương dân, xót xa khi thấy người dân quanh năm đầu tắt mặt tối, sống trong vùng rốn lúa gạo mà vẫn bị đói nên đã can đảm đi ngược lại cơ chế quản lý kiểu thời nông nô tàn bạo. Khi đó, Trường Chinh – một sát thủ trong cải cách ruộng đất đang là Chủ tịch HĐBT. Ai dám nói là ông Kim Ngọc không sợ, nhưng nhờ trí tuệ và lòng xót thương thúc đẩy nên ông đã vượt qua nỗi sợ, đã dám cho “ khoán hộ “ và còn thẳng thắn phát biểu : “ Xã viên không coi ruộng đất là của mình nên họ chẳng thiết tha gì với đồng ruộng. Phải để nông dân làm chủ mảnh đất của mình” (6 ). Sau đó, biết bao khốn khổ dồn dập đổ xuống ông và gia đình.

Khi ông mất, đám tang của ông, theo bà Liên (vợ ông) kể, có rất nhiều nông dân đưa tiễn. Họ lặng lẽ đi sau linh cữu của ông, họ hiểu rằng họ đang đưa tiễn người cha của khoán hộ, người đã đơn độc đi ngược lại các nghị quyết tăm tối để mang lại sự no đủ cho họ về nơi an nghỉ cuối cùng….. Tôi bỗng nhìn thấy bên mé bàn thờ ông có một tấm phướn đề câu thơ: “Ruộng đất công bằng nghĩa hiệp, thăng trầm người mở lối. Ý tưởng tuyệt vời của ông Kim Ngọc còn mãi với thời gian”. Hoá ra đó là mấy câu thơ của các cháu tổ bán báo “Xa Mẹ” ở Hà Nội dâng tặng……Tôi đứng trước mộ ông, trên ngọn đồi cao và suy ngẫm: Giá như không có sự dũng cảm của ông, không biết vận mệnh đất nước đến nay sẽ ra sao? (6 )

Người dân không quên điều gì cả, ngay cả các cháu bé bất hạnh, phải xa nhà, ít học.

Ông Trần xuân Bách, là ủy viên BCT nhưng đã đã có nhiều bài viết và phát biểu theo hướng đổi mới mạnh mẽ theo xu hướng đa nguyên, đa đảng khi trào lưu cải tổ do Gorbachov đưa ra đang lan tràn trong nhiều nước cộng sản. Vì thế, tại Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8, Trần Xuân Bách đã bị phê phán gay gắt và bị kỷ luật, phải ra khỏi Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương.

Ông từng phát biểu: “Dân chủ không phải là ban ơn, không phải là mở rộng dân chủ hay dân chủ mở rộng… Dân chủ là quyền của dân, với tư cách là người làm nên lịch sử, không phải là ban phát – do tấm lòng của người lãnh đạo này hay người lãnh đạo kia. Thực chất của dân chủ là khơi thông trí tuệ của toàn dân tộc và đưa đất nước đi lên kịp thời đại…”( 7) .

Vì tình yêu quê hương, dân tộc, ông bước qua nỗi sợ và chấp nhận giá phải trả.

Một tấm gương nữa cho thấy thái độ vượt qua sự sợ hãi là Đức TGM Ngô Quang Kiệt khi ngài xác lập cách quyết liệt: “ Tự do tôn giáo là quyền chứ không phải là cái ân huệ xin cho “ (8 )“… chúng tôi không tranh chấp với nhà nước, nhưng chúng tôi nói lên cái tiếng nói của công lý “.

Trong cộng đồng dân tộc, chúng ta đã chứng kiến những hành vi yêu nước, ngôn từ yêu nước và cách thức yêu nước của biết bao những người con ưu tú đã dũng cảm vượt qua nỗi sợ, sẵn sàng chấp nhận những đòn thù, những giá phải trả rất đắt thậm chí ngay cả cái chết. Sự can đảm còn cho thấy có những dự liệu mọi điều có thể xảy ra trong công cuộc đấu tranh, họ không sờn lòng với ước mong cả dân tộc cùng đồng lòng vượt qua sự sợ hãi.

LS. Lê thị Công Nhân – một anh thư trong thời đại toàn cầu hóa đã phát biểu rành mạch :

“Tôi sẽ chiến đấu tới cùng cho dù chỉ còn một mình tôi, trước hết là giành lấy nhân quyền cho chính mình, và giành lấy nhân quyền, dân chủ và tự do cho người Việt Nam . Và Cộng sản Việt Nam đừng có mong chờ bất kỳ một điều gì dù chỉ là thỏa hiệp, chứ đừng nói là đầu hàng từ phía tôi. Tôi không thách thức nhưng Cộng Sản Việt Nam nếu đã hạ quyết tâm thực hiện những hành vi tội ác bằng cách chà đạp lên nhân quyền của người dân Việt Nam và muốn tiếp tục dìm đất nước Việt Nam trong một sự tăm tối về mặt chính trị, nghèo nàn về mặt kinh tế, lạc hậu về mặt văn hóa kéo dài cho tới tận đời con cháu của chúng ta cũng như của chính người Cộng sản thì tùy họ có quyền hành xử với những cái gì mà họ có. Gia đình tôi đã chuẩn bị cho trường hợp xấu nhất có thể xảy ra, đó là tôi sẽ bị khởi tố và có thể bị đi tù. Nhưng tôi xin khẳng định một lần nữa: đó vẫn chưa phải là điều tồi tệ nhất có thể xảy ra ( 9 ).”

TS. Cù Huy Hà Vũ – một sĩ phu Bắc Hà cũng tuyên bố mạnh mẽ :

“ Ở Việt Nam hằng nghìn đời nay đã có hằng triệu triệu con người đang hy sinh vì tổ quốc, vì nhân dân, vì công lý, vì đạo lý của người Việt Nam; cho nên ‘nếu’ tôi có bị người ta đụng đến, thậm chí bắt hay giết, đối với tôi chuyện ấy nhỏ như hạt cát, thậm chí không bằng hạt cát so với lịch sử dân tộc, lịch sử yêu nước của người Việt Nam “ ( 10 ).

Một điểm chung dễ nhận thấy nhất là những người đã vượt qua sự sợ hãi đều có niềm tin bất diệt vào dân tộc và tương lai dân tộc. Niềm tin ấy giúp họ không hề nao núng và sẵn sàng đối diện với mọi bất trắc có thể xảy ra. Vì vậy, trong phiên tòa ngày 04.04.2011 TS. Cù Huy Hà Vũ đã tuyên bố một câu cuối cùng, dù không được quyền phát biểu: “Tổ Quốc và Nhân Dân Việt Nam sẽ phá án cho tôi, công dân Cù Huy Hà Vũ”.

Dù có phải trả giá đắt, dân tộc Việt Nam vẫn can đảm dấn bước trên hành trình vượt qua sự sợ hãi. Điều này được liên tục minh chứng qua hàng loạt các buổi cầu nguyện thắp nến hiệp thông, qua các buổi biểu tình bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ, cùng với hàng hàng lớp lớp những con dân đã và đang ưu tư đến tiền đồ dân tộc như nhà văn Nguyên Ngọc, giáo sư Huệ Chi, TS Nguyễn Quang A, TS Nguyễn Xuân Diện, GS. Phạm Minh Hoàng, Nguyễn văn Hải, Phan Thanh Nghiên, Minh Hạnh, Phương Bích, Bùi Hằng……và còn nhiều không kể xiết.

Chúng ta không là người Bắc, Trung hoặc Nam; không phân biệt thành thị hay nông thôn, không phân biệt quá khứ, không phân biệt Công giáo, Tin lành, Phật giáo….mà tất cả đều là người Việt Nam cùng suy tư về tấm dư đồ cha ông để lại.

“ Ta như nước dâng dâng tràn có bao giờ tàn, đường dài ngút ngàn chỉ một trận cười vang vang…… làm người ngang tàng điểm mặt mày của trần gian. Hỡi những ai gục xuống ngồi dậy hùng cường đi lên…”

Trong thời điểm quyết liệt hiện nay, hình ảnh “ Việt Nam quê hương ngạo nghễ “ ( 11 ) theo dòng lịch sử hào hùng đang  sục sôi trong huyết quản mỗi con dân Việt.

Xin lấy Nỗi sợ kết hợp với tựa phim và phát biểu của TS. Cù Huy Hà Vũ để kết luận :

“ Nỗi sợ trong mắt tôi nhỏ như hạt cát, thậm chí không bằng hạt cát so với lịch sử dân tộc, lịch sử yêu nước của người Việt Nam “.


Nguyễn Hữu Nghiã

————————

(1)   Hà nội trong mắt ai – Trần văn Thuỷ, xưởng phim tài liệu và khoa học trung ương, Hà nội, 1987.

(2)   Xã hội và Con người – Trần văn Toàn, nxb Nam Sơn, Saigon, 1965.

(3)   Quân vương – Machiavel, Phan Huy Chiêm dịch, nxb Quán Văn, Saigon, 1974.

(4)http://thangtienvn.com/index.php?option=com_content&view=article&id=10842:co-nhng-ngi-nh-  th&catid=176:binh-lun&Itemid=404

(5)http://luongtamconggiao.wordpress.com/2010/08/08/h%E1%BB%A1i-doan-chien-be-       nh%E1%BB%8F-d%E1%BB%ABng-s%E1%BB%A3-lc-1232-48/

(6)   http://vi.wikipedia.org/wiki/Kim_Ng%E1%BB%8Dc

(7)   http://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A7n_Xu%C3%A2n_B%C3%A1ch

(8)   http://luongtamconggiao.wordpress.com/2011/09/02/ton-giao-va-cai-ach-c%E1%BB%99ng-s%E1%BA%A3n-3/

(9)   http://batkhuat.net/bl-lethicongnhan.htm

(10) http://vi.wikipedia.org/wiki/V%E1%BB%A5_%C3%A1n_C%C3%B9_Huy_H%C3%A0_V%C5%A9

(11) Việt Nam quê hương ngạo nghễ. Nhạc và lời : Nguyễn Đức Quang

Theo Nghiathuc

https://chhv.files.wordpress.com/2011/04/110404112430_cu_huy_ha_vu_466x350_cuhuyhavu_nocredit.jpg?w=640

Nghe bài hát “Cù Huy Hà Vũ – người trí thức kiên trung”

Nhạc và lời : Nguyễn Văn Chính(Nguyễn Chính)
Thể hiện : Nguyễn Văn Chính

&nbsp

Advertisements
Bài này đã được đăng trong Bài vở liên quan và được gắn thẻ . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

7 Responses to Nguyễn Hữu Nghiã – Nỗi sợ trong mắt ai

  1. Phỏng vấn Nữ sĩ Trương Anh Thụy, Giám đốc Nhà Xuất Bản Cành Nam về bài thơ của bà “Gọi Hồn Giữa Thăng Long” và nói về Thăng Long nghìn năm, nhân dịp bà ra mắt và phát hành tác phẩm “Ngày Long Trời Đêm Lỡ Đất” của tác giả Trần Thế Nhân ngày 10 tháng 07 năm 2010 tại Viện Việt Học, Little Saigon, Nam California, USA.

    Được biết Nữ sĩ Trương Anh Thụy là ái nữ của Họa sư Trương Cam Khải và Nữ sĩ Kim Y Phạm Lệ Oanh một chuyên gia nổi tiếng về Hán Nôm.
    Tính theo gia phả bà Trương Anh Thụy là cháu ngoại đời thứ 22 của Đại Thần nhà Hậu Lê là Nguyễn Trãi (1380-1442) được UNESCO công nhận là “Danh Nhân Văn Hóa Thế Giới”.


    GỌI HỒN GIỮA THĂNG LONG
    =====================

    Gió ào ào…
    Rít…
    Gào…
    Cây quằn quại…
    Phải hồn thiêng giận dữ ra oai?
    Bao năm rồi… sao chẳng chút nguôi ngoai!

    Hồn thiêng hỡi!
    Sao chưa đành siêu thoát?
    Vì đất nước lòng dân tan tác!
    Vì người hại người Đang vượt cả thiên tai!

    Hôm nay đây,
    Người Việt trong, ngoài
    thắp nén hương lòng
    lập đàn trai giữa đất Thăng Long
    kỷ niệm một ngàn năm văn hiến
    Chiêu hồn anh linh Lý Thái Tổ
    Cùng các bậc hùng anh, nữ kiệt
    từng xả thân gìn giữ sơn hà
    hội tụ về đây hạch tội
    kẻ cõng rắn cắn gà nhà
    xé mảnh dư đồ tả tơi rách nát
    Ải Nam Quan, Bản Giốc. Ôi danh thác!
    Dấu Phi Khanh, Nguyễn Trãi còn đâu!
    Các anh hùng được ghi khắc ơn sâu
    trấn giữ Hoàng Sa, Trường Sa
    Sao giờ đây để vào tay gian tặc!

    Sao độc lập vẫn cống triều phương Bắc?
    Sao tự do người dân chẳng được than?
    Sao hạnh phúc mà cuộc sống cơ hàn
    cứ bám riết người dân lành chất phác?

    Sống lạc lõng giữa lũ người mang tim loài quỉ ác
    Xây lâu đài trên bãi tha ma
    Khách sạn, hí trường lộng lẫy nguy nga
    mọc trên mảnh đất mồ hôi nước mắt
    của bần nông ngàn đời chiu chắt…

    Nhưng…
    Hồn thiêng hỡi!
    Hãy dằn cơn thịnh nộ!
    Hãy lặng nhìn…
    những trẻ thơ kiếm ăn trên hè phố
    Những mẹ già còm cõi sớm mai
    bới đống rác, rãnh, mương… kiếm chút sinh nhai
    qua những ngày đông hàn,
    hè nắng chói…

    Đầy phố phường đám dân oan khóc gọi:
    Đảng ơi!
    Nhà Nước ơi!
    Thủ Tướng ơi!
    Xin cứu chúng tôi!
    Tiếng kêu gào tắt nghẹn… tàn hơi…
    Nhưng…
    Người ngồi trên đó… vô thức, vô tình, vô cảm…
    Bọn tư bản đỏ, Cường hào mới… sinh sản…
    Nhanh như vết dầu loang…

    Hỡi hồn oan
    của “Ngày Long Trời Đêm Lở Đất!” (*)
    Về đây xem…
    Lịch sử đang đảo lật!
    Bọn địa chủ mới
    cướp đất nhà chùa, nhà thờ, nhà dân…
    giữa ban ngày
    Chính quyền dấu mặt… đưa tay…!

    Hỡi oan hồn của bao tội ác!
    Huế Mậu Thân bao người oan thác!
    Thuyền, bộ nhân… bỏ xác, xương khô…
    Trại cải tạo trá hình xảo quyệt mưu mô…
    Máu, nước mắt ngập tràn trang sử!

    Hỡi hồn thiêng
    Anh Hùng, Liệt Nữ!
    Các con cháu Lạc Hồng
    quật cường đòi Tự Do, Dân Chủ
    đang bị bách hại, tù đầy, bịt miệng câm, bức tử…
    Có thời nào
    đất nước đầy nghịch lý, oái oăm…
    đàn áp dân biểu tình chống đối ngoại xâm?!

    Hỡi hồn thiêng sông núi!
    Hỡi Hùng Vương Quốc Tổ!
    Nhục nước này xiết bao tủi hổ!
    Hãy về đây phù trợ đàn con
    quyết một lòng giải cứu quê hương
    Giành lại đất đai
    Bảo toàn lãnh thổ
    Để Việt Nam lại cất đầu ngẩng cổ
    Nhìn thế giới…
    Hôm nay!

    TRƯƠNG ANH THỤY

    (*) Cải Cách Ruộng Đất (1953-56 tại Bắc Việt. Có 172.008 địa chủ là nạn nhân trong đó 70% bị tố oan, tố điêu, hành hạ, giết oan…!)

  2. Pingback: Nguyễn Hữu Nghiã – Nỗi sợ trong mắt ai | phamdinhtan

  3. 85% Dân Trung Quốc muốn dùng vũ lực với Việt Nam !
    85% Dân Trung Quốc muốn dùng vũ lực với Việt Nam !

    85% Dân Trung Quốc muốn dùng vũ lực với Việt Nam !

    NHƯNG lãnh đạo BẮC KINH từ Hồ Cẩm Đào đều muốn CHÍNH SÁCH XÂM LĂNG không bằng SÚNG ĐẠN mà bằng “Lao động Trung Quốc” NGỤY TRANG trá hình ĐỘI QUÂN kinh tế THỨ 6

    “Lao động Trung Quốc” hay Đạo quân “nằm vùng” thứ 6 : sau Chợ Lớn Phố Tàu – đạo quân “nằm vùng” thứ 5
    ========================================

    Vân Phong – Cà Mâu : đầy Khựa
    Chuyên gia, kỹ sư, quản lý
    Chúng từ Thượng Hải tràn qua
    Khai man hồ sơ cần thiết
    Lý lịch tư pháp dân / quân ? ? ! !
    Trình độ chuyên môn kỹ thuật …
    Vân Phong – Cà Mâu : đầy Khựa
    Không dễ trục xuất chúng đâu
    Ngụy trang rất khó kiểm soát
    Gởi qua “nằm vùng” chờ thời
    Chưa kể công nhân Tàu Khựa
    “Hồn” thợ – “da” lính Tàu ô
    Đóng vai “lao động Trung Quốc”
    “Hồn” phổ thông – “da” kỹ thuật cao
    “Nằm vùng” nổi dậy lúc nào
    Giao liên dẫn đường phá hoại
    Tàu khựa Biển Đông tràn vào
    Biên giới Bắc “biển người” xuống
    Phía Tây : Lào-Miên tràn sang

    *

    Vân Phong – Cà Mâu : đầy Khựa
    Chuyên gia, kỹ sư, quản lý
    Chúng từ Hoa Lục tràn qua
    Mất việc dần người bản xứ
    Cho dù giỏi chịu lương thấp
    Cũng không ai mướn mình làm
    Vì đó là kế sách Tàu
    Chủ đầu tư Khựa muốn vậy
    Chú Chệt nhiều tiền kênh kiệu
    Bỏ xứ hứa hẹn lương cao
    Tranh di cư qua Nước Việt
    Giải quyết được nạn nhân mãn
    Chú Chệt nhiều tiền kênh kiệu
    Tệ nạn mại dâm tiếp viên
    Phục vụ ‘công nhân Trung Quốc’
    Hấp dẫn gái trẻ tại chỗ
    Thế là lấy vợ người Việt
    Dĩ nhiên đẹp hơn bà Tàu
    Thanh niên Việt Nam nghèo túng
    Mất giá đến chỗ ế vợ !
    Chính sách đồng hoá vẫn thế
    Xưa như Trái đất nhưng thâm
    Hiểm hơn xâm lăng súng đạn
    Công lao vĩ đại là nhờ
    Bác Hồ và Đảng Cộng Sản
    Kẻ còn tôn thờ Bác + Đảng
    Đều tội phản Quốc phản Dân …
    Ba Dũng nhận tiền bôi trơn
    Nông đức Mạnh nhận phong bì (1)
    Chúng rước voi giày mả tổ
    Tây Nguyên bô xít ô nhiễm
    Tàn phá hủy hoại Quê Hương

    TRIỆU LƯƠNG DÂN

    1 . Nguyễn Tấn Dũng đã trót nhận tiền bôi trơn của Tàu khựa 150 triệu dollar + Nông đức Mạnh nhận 300 triệu dollar cho vụ Tây Nguyên bô xít ….


  4. Vững thẳng tay lái tay chèo
    ===========

    Giữa biển trùng khơi
    Muôn trùng sóng gió
    Bạo lực cường quyền
    Con tàu Dân chủ
    Không ngã tay chèo
    Mũi thẳng tiến bước
    Con tàu Tự do
    Không ngã tay chèo
    Sóng to gió lớn
    Sóng thần dữ dội
    Mũi thẳng tiến bước
    Can đảm quyết tâm
    Không ngã tay chèo
    Cùng nhau chung nhịp
    Dù sóng đàn áp
    Ta vẫn đấu tranh

    *

    Kẻ lạ nằm vùng
    Âm mưu chia rẽ
    Đập bể la bàn
    Đục phá thuyền ta
    Kẻ thù thâm hiểm
    Ô nhiễm hải trình
    Đánh lạc dư luận
    Con tàu Dân chủ
    Không ngã tay chèo
    Mũi thẳng tiến bước
    Con tàu Tự do
    Không ngã tay chèo
    Sóng to gió lớn
    Sóng thần dữ dội
    Mũi thẳng tiến bước
    Can đảm quyết tâm
    Không ngã tay chèo
    Cùng nhau chung nhịp
    Dù sóng đàn áp
    Ta vẫn đấu tranh
    Cùng toàn Dân lành …

    TRIỆU LƯƠNG DÂN

  5. Thăng Long nói:

    Bài viết của Nguyễn Hữu Nghĩa được đầu tư công phu, thuyết phục người đọc.
    Lực lượng dân chủ, yêu nước hiện nay gặp 2 cái khó:
    1. Chế độ CS rất tàn khốc và vô cùng mất dân chủ, đứng trên tất cả, cai trị xã hội không cần luật. So với mọi chế độ từ trước tới nay, CSVN là chế độ mất dân chủ nhất, sẵn sàng đàn áp bằng mọi giá những người bất đồng chính kiến, đàn áp mọi lực lượng trong xã hội khi họ thấy lực lượng đó có thể làm nguy hại đến chế độ họ đang cai trị.

    – Thời Pháp thuộc, người Pháp cai trị dân Nam ta bằng một nhà nước pháp quyền thật sự nên mới có những cuộc biểu tình đòi giảm tô, giảm tức, biểu tình đình công, đòi lập Đoàn, lập Hội…
    – Thời Mỹ Ngụy ở MN nhà nước cho phép người dân biểu tình, nên mới có các cuộc biểu tình của sinh viên, của các tôn giáo. Được thành lập các Hội người yêu nước, các phong trào đấu tranh của mọi tầng lớp người dân…

    2. Cái khó thứ 2: CSVN rất thâm độc, họ làm cho mọi người dân có một cuộc sồng “cầm hơi”, có ăn, có mặc, nhưng cuộc sống đó chưa thể gọi là hạnh phúc, ấm no. Bằng mọi thủ đoạn mỹ dân, làm cho người dân tự bằng lòng, an phận. Người dân chưa đến “bước đường cùng” phải vùng lên đấu tranh thay đổi chế độ.

    Chính sách của CSVN đối với người dân VN hoàn toàn tương đồng với chính sách của CS Trung Quốc đối với CSVN. Trung Quốc kiềm chế VN vừa đủ để VN tồn tại để đánh Mỹ trước đây và để không theo hẳn với Mỹ ngày nay. Một đường lối rất thâm độc, không bao giờ TQ cho VN giàu lên, mạnh lên. TQ biết cách làm cho lãnh đạo VN luôn luôn sợ hãi TQ và không giám đấu tranh với TQ.

    Chừng nào những người yêu nước giải quyết được 2 vấn đề là buộc CSVN phải điều hành đất nước bằng pháp luật thật sự và làm cho mọi người dân thoát khỏi tư tưởng “sống cầm chừng”, sống an phận, vượt qua sợ hãi để đòi quyền được làm người thật sự. Chừng đó mới không uổng phí những hy sinh của các nhà dấu tranh dân chủ trong thời gian qua, may ra mới đủ lực để buộc nhà cầm quyền CSVN phải trả lại quyền lãnh đạo xã hội cho nhân dân VN.

  6. Người Hà Nội nói:

    Cám ơn NGUYỄN HỮU NGHĨA đã có bài viết rất hay và ý nghĩa, những bài viết như thế này đang rất cần cho dân tộc chúng ta để có thể thay đổi vận mệnh đất nước.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s