Đơn tố cáo Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Trương Hòa Bình của bà Nguyễn Thị Dương Hà gửi Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang

Dưới đây là nội dung “Đơn tố cáo Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Trương Hòa Bình của bà Nguyễn Thị Dương Hà gửi Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang”  cùng “Thông báo của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao gửi bà Nguyễn Thị Dương Hà”. Các tài liệu này do Tiến sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ cung cấp.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

—————————————-

ĐƠN TỐ CÁO

Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Trương Hòa Bình

bất chấp pháp luật, không kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm

bản án hành chính phúc thẩm, gây thiệt hại nghiêm trọng cho công dân

Kính gửi: Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang

Tôi là Nguyễn Thị Dương Hà, sinh năm 1958, trú tại 24 Điện Biên Phủ, phường Điện Biên, quận Ba Đình, Hà Nội, con đẻ của bà Dương Thị Kính, sinh năm 1926 (đã chết), thay mặt những người thừa kế của bà Kính tố cáo với Chủ tịch Nước về việc Chánh án tòa án nhân dân tối cao Trương Hòa Bình đã bất chấp pháp luật, không kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án phúc thẩm hành chính, gây thiệt hại nghiêm trọng cho những người thừa kế của bà Kính như trình bày sau đây.

NỘI DUNG:

Ngày 28/9/1975 ông Nguyễn Bá Vại sang nhượng cho bà Dương Thị Kính một khu đất trong đó có một mương nước tại Tổ Đoàn kết 25 Khóm 3 phường 5, quận Thạnh Mỹ Tây, Sài Gòn (nay là 255/6/27 Ngô Tất Tố, phường 22, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh). Việc sang nhượng này được thể hiện bằng Giấy sang nhượng nhà đất của ông Nguyễn Bá Vại cho bà Dương Thị Kính, có xác nhận của Ủy ban nhân dân cách mạng phường 5 (nay là Ủy ban nhân dân phường 22).

Tháng 10/1993, bà Vũ Thị Duyên tranh chấp mương nước (thửa 90 đăng ký theo Chỉ thị 299 TTg) với ông Nguyễn Bá Phụng, chồng bà Kính và đưa việc tranh chấp này ra chính quyền.

Ngày 20/11/2001, Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận Bình Thạnh ban hành Quyết định số 2324/QĐUB với nội dung: “Ông Nguyễn Bá Phụng trả lại cho bà Vũ Thị Duyên phần đất có nguồn gốc là ao thoát nước diện tích 175m2, thửa số 90, tờ thứ 2 thuộc bộ địa chính P.22, Q.Bình Thạnh”;

Không đồng ý với Quyết định trên, ông Nguyễn Bá Phụng, bà Dương Thị Kính làm đơn khiếu nại gửi Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận Bình Thạnh;

Ngày 06/6/2002, Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận Bình Thạnh ra quyết định giải quyết khiếu nại số 2714/QĐ-UB với nội dung: “bác đơn khiếu nại của bà Dương Thị Kính, giữ nguyên quyết định số 2324/QĐ-UB ngày 20/11/2001 của Ủy ban nhân dân quận Bình Thạnh”.

Ngày 04/7/2002, bà Dương Thị Kính và ông Nguyễn Bá Phụng làm đơn khởi kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận Bình Thạnh do đã ra các quyết định trái pháp luật nói trên.

Ngày 17/12/2009, Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh tại bản án hành chính sơ thẩm số 04/2009/HCST đã bác yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị Kính và ông Nguyễn Bá Phụng.

Ngày 17/12/2009, ông Nguyễn Dương Tiến (con và là người thừa kế bà Dương Thị Kính) làm đơn kháng cáo, yêu cầu xem xét lại toàn bộ vụ án theo trình tự phúc thẩm.

Ngày 16/5/2011, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại bản án hành chính phúc thẩm số 538/2011/HC-PT đã bác yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị Kính, ông Nguyễn Bá Phụng.

Tôi, Nguyễn Thị Dương Hà, thấy quyết định của bản án số 538/2011/HC-PT ngày 16/5/2011 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án nên căn cứ khoản 2, Điều 210 – Căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm của Luật tố tụng hành chính (Phần quyết định trong bản án, quyết định không phù hợp với 9 tình tiết khách quan của vụ án) nên ngày 09/8/2011 tôi đã gửi Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Trương Hòa Bình Đơn đề nghị kháng nghị bản án này theo thủ tục giám đốc thẩm.

Ngày 30/9/2013, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Trương Hòa Bình (Tòa hành chính Tòa án nhân dân tối cao thừa lệnh ký) đã ra văn bản số 307/TANDTC-HC trả lời tôi là không có căn cứ để kháng nghị Bản án hành chính phúc thẩm mặc dù không bác bỏ được bất cứ tình tiết nào trong 9 tình tiết khách quan của vụ án mà tôi đã nêu trong Đơn đề nghị kháng nghị bản án theo thủ tục giám đốc thẩm. Do đó, ngày 16/10/2013 một lần nữa tôi đã gửi Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Trương Hòa Bình Đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm Bản án hành chính phúc thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 29/9/2014, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Trương Hòa Bình đã gửi cho tôi Thông báo giải quyết đơn đề nghị số 497/TANDTC – HC (Phó chánh Tòa hành chính – Tòa án nhân dân tối cao Nguyễn Văn Cường thừa lệnh ký) bác Đơn ngày 16/10/2013 với nội dung sau:

Nguồn gốc diện tích đất đang tranh chấp giữa gia đình bà Dương Thị Kính và gia đình bà Vũ Thị Duyên là của ông Nguyễn Bá Vại, trước đây là cái ao nhỏ (ao nhỏ có chức năng dẫn nước từ sông vào ao lớn), thuộc thửa số 90 có diện tích 175m2, tờ bản đồ số 2 Bộ địa chính phường 22, quận Bình Thạnh (trích tài liệu điều tra theo Chỉ thị số 299/TTg ngày 10/11/1980 của Thủ tướng Chính phủ).

Năm 1968, ông Vại đã chuyển nhượng 1 phần diện tích đất ao thuộc thửa 90 cho gia đình bà Duyên (không lập giấy mua bán). Năm 1975, ông Vại viết giấy mua bán phần đất còn lại cho vợ chồng bà Kính, có nội dung: “Tôi có miếng đất chiều sâu 25m, chiều ngang 60m, có một cái nhà chứa đồ dài 12m, rộng 8m ngăn làm ba phòng…Tôi bằng lòng sang nhà và đất có những cây trồng trên miếng đất nói trên cho bà Dương Thị Kính…với số tiền tương ứng là 600đ (sáu trăm đồng) giải phóng”.

Ngày 15/12/1983, chị Huỳnh Thị Linh (con dâu bà Kính) thay mặt gia đình bà Kính khi đăng ký quyền sử dụng đất đã kê khai thửa 116 với diện tích 684m2 loại đất thổ và thửa số 91 với diện tích 1064m2 loại đất trồng cây lâu năm khác theo bản đồ 299.

Ngày 17/12/1983, gia đình ông Phạm Đình Đà (chồng của bà Duyên) đăng ký quyền sử dụng đất đối với các thửa số 90 với diện tích 320m2 loại đất ao; thửa số 93 với diện tích 438m2 loại đất ao và thửa số 92 với diện tích 760 m2 loại đất thổ theo bản đồ 299.

Hơn nữa, theo giấy mua bán và giấy xác nhận thì ông Nguyễn Bá Vại bán cho gia đình bà Kính diện tích đất có kích thước 25m x 60m = 1500m2. Tuy nhiên giấy đăng ký ruộng đất (không có diện tích đang tranh chấp) của gia đình bà Kính diện tích kê khai là 1748m2, tăng thêm 248m2.

Do đó thấy có đủ sơ sở để xác định diện tích đất thuộc thửa 90 tờ bản đồ số 02 là của gia đình bà Vũ Thị Duyên.”

Tôi, Nguyễn Thị Dương Hà, thấy nội dung trên của Thông báo của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Trương Hòa Bình là hoàn toàn trái với các tình tiết khách quan của vụ án. Cụ thể như sau:

  1. Chánh án Trương Hòa Bình “đổi trắng thay đen” khi bảo vệ người không có giấy sang nhượng nhà đất là vợ chồng bà Vũ Thị Duyên chống lại người có giấy sang nhượng nhà đất là bà Dương Thị Kính.

Bà Dương Thị Kính có Giấy sang nhượng nhà đất ngày 28/9/1975 của ông Nguyễn Bá Vại (có xác nhận của Ủy ban nhân dân cách mạng phường 5 (nay là phường 22) còn gia đình bà Vũ Thị Duyên không có Giấy sang nhượng nhà đất của ông Nguyễn Bá Vại như chính Chánh án thừa nhận. Không những thế, bà Kính còn được ông Nguyễn Bá Vại hai lần bằng văn bản xác nhận nhượng cho mương nước (thửa 90), diện tích đất mà bà Duyên tranh chấp.

  • Ngày 02/02/1999, bằng văn bản ông Vại tái xác nhận sang nhượng nhà đất cho bà Kính trong đó xác nhận chỉ nhượng mương nước cho bà Kính, không nhượng cho ai khác (có chứng thực của Ủy ban nhân dân xã Phượng Mỹ, Mỹ Hưng, Thanh Oai, Hà Tây (nay là Hà Nội).

  • Ngày 03/8/2007, tại xã Phượng Mỹ bằng văn bản ông Vại xác nhận một lần nữa việc sang nhượng nhà đất cho bà Kính, trong đó xác nhận chỉ nhượng mương nước cho bà Kính, không nhượng cho ai khác.

Tóm lại, đất đai tranh chấp giữa 02 bên có nguồn gốc từ một chủ mà ở đây là ông Nguyễn Bá Vại thì quyền sử dụng đất đương nhiên thuộc về bên có giấy tờ sang nhượng chứ, không thể thuộc về bên không có giấy tờ sang nhượng. Vì lẽ đó quyền sử dụng mương nước (thửa 90) đương nhiên thuộc về bà Kính.

Như vậy, bằng việc việc bảo vệ vợ chồng bà Vũ Thị Duyên chống lại bà Dương Thị Kính, Chánh án đã trắng trợn làm trái Luật đất đai khi Luật này công nhận giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất được UBND cấp xã xác nhận (Điểm d Khoản 1 Điều 100).

  1. Chánh án Trương Hòa Bình bịa đặt khi cho rằng chị Huỳnh Thị Linh (con dâu bà Dương Thị Kính) thay mặt gia đình bà Kính khi đăng ký quyền sử dụng đất không kê khai thửa 90 (mương nước) để kết luận là bà Kính không sở hữu thửa đất này.

Ủy ban nhân dân quận Bình Thạnh cung cấp cho Tòa án Đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất của bà Kính được cho là của bà Huỳnh Thị Linh (con dâu bà Kính) ký. Thế nhưng tại Tòa án bà Linh khẳng định: “Tôi là Huỳnh Thị Linh, CMND số 022268480, là con dâu bà Dương Thị Kính, xác nhận rằng chữ ký bên phải giấy này (Đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất) là giả mạo, không phải chữ ký của tôi”. Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh đã trưng cầu giám định chữ ký trên Đơn này và cơ quan giám định đã kết luận rằng chữ ký không phải là chữ ký của bà Linh, tức Đơn này là giả mạo.

Bất luận thế nào thì việc đăng ký quyền sử dụng đất phải căn cứ vào giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất trừ phi đó là đất khai hoang hoặc đất được Nhà nước giao. Điều này có nghĩa cho dù bà Kính đã không đăng ký quyền sử dụng đất do bà Kính vắng mặt tại thời điểm triển khai đăng ký quyền sử dụng đất thì bà Kính cũng không mất quyền sử dụng đất khi đã có giấy sang nhượng nhà đất của ông Nguyễn Bá Vại.

  1. Chánh án Trương Hòa Bình cố tình lờ đi nhiều tình tiết khách quan khác của vụ án

  • Con mương (thửa 90) giáp ranh khu đất của gia dình ông Võ Văn Gấm (Tư Bốn). Do đó nếu con mương thuộc quyền sử dụng của gia đình bà Duyên thì con ông Gấm phải xác nhận khu đất của gia đình ông Gấm giáp ranh với khu đất của bà Duyên. Thế nhưng con ông Gấm là Võ Tấn Thời bằng văn bản xác nhận: “khu đất của gia đình bà Kính giáp ranh với khu đất của gia đình chúng tôi, có làm hàng rào ranh giới”. Hàng rào ranh giới là hàng cây bạch đàn do bà Kính trồng, được Hội cựu chiến binh phường 22 chụp ảnh làm bằng và có xác nhận của ông Bùi Văn Khuê. Trong khi đó bà Duyên đã không có bất cứ chứng cứ nào chứng minh khu đất của gia đình bà Duyên giáp ranh khu đất của gia đình ông Võ Văn Gấm.

  • Chiều dài khu đất của bà Kính bao gồm cả mương nước (thửa 90) đến khu đất của gia đình ông Võ Văn Gấm (Tư Bốn) là 60m, đúng như được ghi trong Giấy sang nhượng nhà dất của ông Nguyễn Bá Vại cho bà Kính mà chính Chánh án thừa nhận. Điều này hoàn toàn loại trừ mương nước rộng 06m (như nhận định của Tòa sơ thẩm, phúc thẩm) thuộc quyền sở hữu của gia đình bà Duyên vì nếu mương nước thuộc quyền sở hữu của gia đình bà Duyên thì chiều dài khu đất của bà Kính chỉ là 54m chứ không thể là 60m.

  • Quyết định số 2324/QĐUB ngày 20/11/2001 của UBND quận Bình Thạnh ghi: “Năm 1988, khi Nhà nước tiến hành lấp ao lớn quy hoạch đường Nguyễn Hữu Cảnh, bà Kính cũng lấp mương nước”. Thế nhưng đến tháng 10/1993, bà Duyên mới khiếu nại Ủy ban nhân dân phường 22 (Biên bản do UBND phường 22 lấy ý kiến của bà Kính về khiếu nại của bà Duyên đề ngày 8/10/1993). Như vậy, rõ ràng mương nước (thửa 90) thuộc sở hữu của bà Kính vì nếu mương nước thuộc sở hữu của gia đình bà Duyên thì không lẽ gì mãi 05 năm sau khi bà Kính lấp mương nước bà Duyên mới khiếu nại!

  1. Chánh án Trương Hòa Bình kết luận tùy tiện

Thông báo của Chánh án Trương Hòa Bình ghi: “theo giấy mua bán và giấy xác nhận thì ông Nguyễn Bá Vại bán cho gia đình bà Kính diện tích đất có kích thước 25m x 60m = 1500m2. Tuy nhiên giấy đăng ký ruộng đất (không có diện tích đang tranh chấp) của gia đình bà Kính diện tích kê khai là 1748m2, tăng thêm 248m2. Do đó thấy có đủ sơ sở để xác định diện tích đất thuộc thửa 90 tờ bản đồ số 02 là của gia đình bà Vũ Thị Duyên.”

Với nội dung trên của Thông báo, bên cạnh việc biến Giấy đăng ký quyền sử dụng đất của gia đình bà Kính là văn bản giả mạo như tôi đã chứng minh ở điểm 2 thành chứng từ hợp pháp, Chánh án Trương Hòa Bình tự bộc lộ nhiều mâu thuẫn như sau:

  • Chánh án Trương Hòa Bình một mặt thừa nhận “giấy xác nhận” của ông Nguyễn Bá Vại, tức thừa nhận ông Vại chỉ nhượng mương nước (thửa 90) cho bà Kính nhưng mặt khác lại xác định mương nước là của gia đình bà Duyên!

  • Chánh án Trương Hòa Bình một mặt xác nhận chênh lệch diện tích đất giữa diện tích đất mà gia đình bà Kính đang sử dụng và diện tích đất ghi trong Giấy sang nhượng nhà đất giữa ông Nguyễn Bá Vại và bà Kính “không có diện tích đang tranh chấp” với gia đình bà Duyên nhưng mặt khác lại kết luận diện tích đất chênh lệch này cho thấy thửa 90 (diện tích đang tranh chấp) là của gia đình bà Duyên!

Cũng cần nói thêm rằng diện tích đất sử dụng thực tế của gia đình bà Kính lớn hơn diện tích 1500m2 được ghi trong Giấy sang nhượng nhà đất giữa ông Nguyễn Bá Vại và bà Kính là vì diện tích được ghi trong Giấy sang nhượng nhà đất không bao gồm phần lưu không giáp bờ sông dọc theo 60m chiều dài của khu đất (sông nay đã bị lấp và chuyển thành đường giao thông).

Những mâu thuẫn này chỉ có thể cho thấy kết luận của Chánh án Trương Hòa Bình là hoàn toàn tùy tiện nhằm tước đoạt đất của gia đình bà Kính.

YÊU CẦU

Để Nhà nước Việt Nam thực sự là Nhà nước pháp quyền, Tòa án nhân dân thực sự bảo vệ công lý, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân như Hiến pháp quy định, tôi trân trọng yêu cầu Chủ tịch Nước bằng quyền hạn của mình yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý theo pháp luật Chánh án tòa án nhân dân tối cao Trương Hòa Bình do đã cố tình bất chấp pháp luật, không xét lại bản án hành chính phúc thẩm số 538/2011/HC-PT ngày 16/5/2011 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính về quản lý đất đai” của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh theo Đơn đề nghị kháng nghị bản án theo thủ tục giám đốc thẩm ngày 09/8/2011 của tôi, gây thiệt hại nghiêm trọng cho chúng tôi, những người thừa kế bà Dương Thị Kính.

Tôi mong sớm nhận được văn bản giải quyết tố cáo của Chủ tịch Nước nhằm bảo đảm quyền lợi hợp pháp của chúng tôi, những người thừa kế của bà Dương Thị Kính.

Trân trọng.

Washington, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ

Ngày 13 tháng 10 năm 2014

NGƯỜI LÀM ĐƠN

Nguyễn Thị Dương Hà

Nơi nhận:

  • Như trên;
  • Gia đình bà Dương Thị Kính;
  • Bộ Ngoại giao Hợp chủng quốc Hoa Kỳ;
  • Đại sứ quán Hợp chủng quốc Hoa Kỳ tại Việt Nam;
  • Các cơ quan hữu quan;
  • Báo chí, thông tin đại chúng.

 

 

page0001page0002page0003page0004page0005page0006page0007IMG_1793

 

 

Thông báo của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao gửi bà Nguyễn Thị Dương Hà

 

thongbaothongbao2

This entry was posted in Bài vở liên quan and tagged , . Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s